Cảm nhận bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca” từ góc nhìn chủ nghĩa tương trưng, siêu thực

Hoàng Nguyên, CTV Phía Trước

            Chất siêu thực, tượng trưng đã thẩm thấu vào thơ ca Việt Nam từ thời Thơ mới và kết tinh ra nhiều kiệt tác trong thơ của Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, kể cả Xuân Diệu… Giai đoạn 1945–1975, thơ Việt Nam tập trung vào mảng thơ tạm gọi là hiện thực, tất cả phục vụ cho lợi ích chung nên những âm điệu, hình sắc thăng giáng bí ẩn của chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng có vẻ không phù hợp. Và từ sau giải phóng đến nay, đời sống văn học dần trở lại sự đa dạng đáng phải có của nó, chất tượng trưng, siêu thực lại tái sinh trong sáng tác của các thi sĩ đương đại. Bài thơ Đàn ghi ta của Lorca đã được nhà Thanh Thảo vận dụng chất ma mị, biển ảo ấy một cách khá “nhuyễn tay”. Điều này không mới nhưng là một hiện tượng đáng ngợi khen cho sự nỗ lực làm phong phú thêm hình thức thơ ca, giúp tư duy nghệ thuật ngày càng thay da, đổi thịt.

Dan ghita Lorca            Chủ nghĩa siêu thực hướng đến tạo lập tính lạ hóa của ngôn từ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. Thủ pháp “lạ hóa” có khuynh hướng phối hợp những yếu tố ngôn ngữ có vẻ không liên hệ gì nhau để tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ mới mẻ, những tổ hợp ngôn từ “xiên lệch” thậm chí méo mó, khác thường… Nó hướng đến tác động đến trực giác, chạm đến tiềm thức của con người. Cũng như vậy, sản phẩm thơ ca của chủ nghĩa tượng trưng không thể được lĩnh hội bằng lí trí.

            Thơ tượng trưng là thơ giàu nhạc tính. Hình ảnh thơ đầy ấp biểu tượng đòi hỏi sự giải mã và quá trình lấp đầy khoảng trắng, khoảng trống ở người đọc. Bài thơ Đàn ghi ta của Lorca đã được Thanh Thảo kiến tạo một cách rất thành thục trong sự vận dụng thủ pháp của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực một cách tinh tế, tài hoa:

những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li – la li – la li – la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

            Chủ nghĩa siêu thực tước bỏ hết những tính hiệu ngôn từ để người đọc có thể lí giải về nó theo “đường thẳng”. Mở đầu bài thơ là hình ảnh mang đậm tính siêu thực, lẫn tượng trưng: những tiếng đàn bọt nước. Tiếng đàn là âm thanh, là không hình hài, không màu sắc được phối hợp với  bọt nước – có hình hài, đường nét. Những tiếng đàn tượng trưng cho tài hoa và sinh mệnh của Lorca. Tiếng đàn ấy được cảm nhận là có đường nét, có hình khối. Bọt nước thì mong manh, dễ vỡ, chỉ tồn tại trong một lóe sáng… Dòng thơ đầu tiên này vừa gợi tả tiếng đàn kì lạ của Lorca vừa ngầm dự cảm về số phận bất trắc của ông. Tiếng đàn của Lorca ngân vang như một dòng suối lạ trên đời, Lorca đến với cuộc đời này như một huyền thoại. Nếu ai đó tinh ý sẽ thấy dòng thơ thứ hai đối lập gay gắt với dòng thơ đầu: Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt. Nếu như ta thay thể từ Tây Ban Nha bằng một chủ ngữ chỉ người nào khác thì tứ thơ không có gì khó hiểu, chả lẽ lại cắt nghĩa là cả đất nước Tây Ban Nha đang choàng áo đỏ? Chủ nghĩa siêu thực cho phép nhà thơ kiến tạo ngôn từ mang hình sắc khác thường như vậy. Áo choàng đỏ gắt là hình ảnh tượng trưng gợi ra tư thế của những đấu sĩ bò tót. Tây Ban Nha trong cảm nhận của Thanh Thảo là một đấu trường khổng lồ, một đấu trường khắc nghiệt bạn lực và đẫm máu. Những tiếng đàn kì diệu của Lorca, người nghệ sĩ tài hoa Lorca lại bị đặt trong một bối cảnh thời đại tàn khốc và đầy rẫy hiểm nguy ấy. Đó chính là sự đối lập gay gắt. Dòng thơ thứ ba mô phỏng âm điệu ngân vang của tiếng đàn Lorca, như trêu ngươi, như thách thức. Ba dòng thơ tiếp không hề có chủ ngữ, xây dựng chân dung và tư thế của Lorca một cách mờ ảo, khác thường:

đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

            Người nghệ sĩ Lorca trên con đường đi tìm chân lí và cái đẹp là một kẻ lẻ loi, cô đơn. Lorca đi giữa thời đời đẫm máu, đường đầu với nó trong tư thế độc mã, đơn thương. Chân trời mà ông hướng tới cũng không hề có dấu chân của bạn đồng hành, đó là chân trời đơn độc. Cái lang thang, cái đơn độc của Lorca còn được hiểu ở một tầng nghĩa khác: không ai sánh được với ông. Trên con đường vinh quang đi tìm tự do và công lí, Lorca ngự ở một tầm cao chói lọi. Điều đó vừa là vinh quang, vừa là bi kịch. Thanh Thảo vừa ngợi ca vừa thương cảm. Bạn đồng hành của ông có chăng chỉ là vầng trăng chếnh choáng. Xuân Diệu từng viết: cho chếnh choáng mùi hương / cho đã đầy ánh sáng. Từ láy chếnh choáng diễn tả trạng thái động và biến bảo liên tục của ánh sáng. Lorca đi trong ánh sáng ma mị, biến đổi đến chóng mặt của vầng trăng kì bí. Hình ảnh của Lorca trở nên lung linh, mơ màng. Ông đi như một huyền thoại.

Giữa thời đại bão tố và khốc liệt ấy, người nghệ sĩ dù đơn độc vẫn đường hoàng, không chỉ đi mà còn cất tiếng hát:

Tây Ban Nha
hát nghêu ngao

            Liên kết hai dòng thơ lại, không phải là cả đất nước Tây Ban Nha đang hát nghêu ngao. Dòng thơ đầu đóng vai trò gợi bối cảnh. Câu thơ thứ hai là hình ảnh của Lorca. Ông vẫn tiến về phía trước và cất tiếng hát đầy kiêu hãnh như chòng ghẹo, như thách thức và bất chấp. Và tại họa đã giáng xuống:

bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du

            Hình ảnh áo choàng bê bết đỏ không phải là hình ảnh tượng trưng hay hoán dụ, nó gợi tả quá rõ ràng cái chết đẫm máu của Lorca. Thanh Thảo chỉ lướt qua nỗi đau ấy bằng một chi tiết nói về cái chết. Bọn phát xít đến bắt, giết chết lorca và ném xác ông xuống giếng để phi tan. Ta chú ý đến tư thế được gợi tả của Lorca: chàng đi như người mộng du. Bước chân của kẻ mộng du là bước chân của vô thức, bước chân không chủ đích. Chỉ có thân xác của Lorca bị bọn phát xít đày đến pháp trường, tâm hồn của Lorca không thể bị trói buộc và đưa đến mồ chôn hủy diệt.

Và rồi những cung bậc của thơ siêu thực thăng hoa đến cao trào, mọi hình hài hiện thực được chứng kiến bằng đôi mắt đều chìm lấp, chỉ còn lại âm thanh ám ảnh của tiếng đàn:

tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

            Tiếng đàn có hình sắc, tiếng ghi ta nâu, tiếng đàn trở nên trầm buồn, u ám. Chen giữa bản đàn sầu não ấy lại là một hình ảnh có sắc thái đối lập gay gắt: bầu trời cô gái ấy. Thơ siêu thực vượt khỏi những logic thông thường của ngôn từ để xây dựng nên cấu trúc chứa đầy khoảng mờ. Ta chẳng biết cô gái ấy là ai, là nàng thơ của thi sĩ hay tình nhân ta chỉ cảm giác được được là dòng suối trong, gợi ra khoảng trời tươi sáng, ấm áp. Tâm hồn Lorca lóe lên một tia hi vọng gì chăng ?  Màu xanh của bầu trời, màu xanh của tiếng ghi ta lá xanh…màu xanh của hi vọng, màu của tương lai bỗng chuyển sắc bi thương:

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy

            Những tiếng đàn bọt nước ở khổ thơ đầu đã trở thành tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Sự dự cảm đã chuyển thành biến cố. Sinh mệnh của Lorca được biểu trưng trong hình ảnh tiếng đàn bọt nước vỡ tan. Những tiếng đàn ấy ngân vang mà nghe như máu chảy, ròng ròng. Máu của Lorca như chảy mãi, không bao giờ ngừng cạn. Nỗi đau của cả dân tộc Tây Ban Nha về cái chết của người nghệ sĩ vĩ đại là một vết thương không bao giờ lành lại. Vết thương của tinh thần. Tiếng đàn của Lorca là tiếng đàn đổ máu, tiếng đàn đau nhói trái tim.

            Nhưng với một nghệ sĩ như Lorca, cái chết không phải là sự kết thúc:

không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

            Kẻ thù có thể bắn chết Lorca và ném xác ông vào giếng nhưng tiếng đàn không thể hủy diệt. Sinh mệnh của con người Lorca nằm ở thân xác bị bắn chết nhưng sinh mạng của người nghệ sĩ Lorca đã hóa thân vào tiếng đàn bất tử. Tiếng đàn như cỏ mọc hoang, tiếng đàn không bị hủy diệt mà còn sinh sôi mãnh liệt. Cái chết ấy được tưởng niệm bằng một biểu tượng đẹp. Nếu như ở khổ thơ đầu, vầng trăng chếnh choáng là người bạn đồng hành của Lorca thì đến khổ thơ này vầng trăng là kẻ khóc thương. Vầng trăng  – biểu tượng của hòa bình, của sự bình yên. Vầng trăng vừa tạo ra thứ ánh sang ma mị thêu dệt nên những bước chân huyền thoại của ông đi đến cuộc đời này; vầng trăng cũng là người bạn tiễn đưa, là vầng sáng diễm lệ bên thi hài Lorca. Kẻ thù giết ông và ném xác xuống giếng, từ nơi ấy không hực lên tử khí và sự căm hờn mà lóe lên tia sáng và giọt nước mắt long lanh của đất trời thật đẹp. Cái chết của Lorca rất bi thương mà cũng rất huy hoàng.

            Và con người ấy đã “trở về” trong tư thế của kẻ giải thoát:

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
Trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di – gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li – la li – la li – la

            Sinh mệnh của cuộc đời một con người kết thúc nhưng sinh mệnh của một nghệ sĩ là trường bất tử. Lorca bơi sang sông cùng chiếc đàn ghi ta là một hình ảnh đậm chất tượng trưng, siêu thực. Dòng sông đó là dòng luân hồi, là cõi đời ta bà này. Cây đàn là phương thiện giải thoát. Nghệ thuật của Lorca là cứu cánh đưa ông vượt khỏi giới hạn của sự sống và cái chết. Lorca đứng ngoài vòng luân hồi nghiệt ngã ấy. Lorca chết đi không giận hờn, không tiếc nuối. Hành động ném lá bùa thể hiện sự bất cần. Ông không cần sự cứu giúp, ông không cần một phép màu. Lorca là đã đến với cuộc đời như một huyền thoại và ra đi thật thanh thản, siêu thoát vượt khỏi mọi định mệnh. Lorca là con người đứng ngoài vòng định mệnh.

            Có lẽ vì vậy mà Thanh Thảo đã chọn câu thơ khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn làm câu thơ đề từ. Lorca là con người không tiếc nuối không sợ hãi và chấp nhận sự lãng quên. Ông không muốn những thành tựu nghệ thuật của mình là đỉnh cao áng ngữ sự phát triển của nghệ thuật đời sau. Lorca đã đến rất kiêu hãnh và ra đi thật nhẹ nhàng.

            Bằng việc sử dụng tinh tế chất tượng trưng siêu thực Thanh Thảo đã khắc họa thành công chân dung Lorca: Người nghệ sĩ đơn độc kiêu hãnh, cái chết bi kịch nhưng huy hoàng và sự bất tử, siêu thoát uy nghiêm.

© 2013 TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.