Những nhận thức pháp lý làm cơ sở cho hoạt động dân chủ hóa đất nước

Điều 2 Hiến pháp Việt Nam 1992 (sửa đổi năm 2001): “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức.”

Nhà nước « của dân, do dân, vì dân » là Nhà nước do dân bầu ra, với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội, nhiều đảng chính trị khác nhau. Nhưng cho tới nay, sau một phần tư thế kỷ thống nhất đất nước, Việt Nam vẫn chưa nghiêm túc thực thi bầu cử tự do, công bằng và minh bạch. Bầu cử và ứng cử vẫn bị kiểm soát chặt chẽ và áp đặt bởi đảng lãnh đạo. Ứng cử và đề cử phải thông qua Mặt trận Tổ quốc, cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, Quốc hội Việt Nam chưa hoàn toàn đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân; đại biểu Quốc hội thực chất không do dân bầu ra, không chịu trách nhiệm với dân. Như vậy, Quốc hội thiếu tính chính danh và khó được lòng dân ủng hộ.

Việc hạn chế quyền tự do ứng cử, tự do bầu cử của người dân còn vi phạm điều 7 Hiến pháp Việt Nam năm 1992, điều 21 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Điều 3 Hiến pháp 1992: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.”

Xã hội công bằng, dân chủ đã là mục tiêu chính thức để hướng đến tại Việt Nam. Nhưng chúng ta cần hiểu thế nào là dân chủ, thế nào là công bằng. Ít nhất, chúng ta cần mở rộng đối thoại bình đẳng trong xã hội để đạt đồng thuận về các khái niệm cơ bản này.

Dân chủ không thể có nếu người dân bị tước đi các quyền tự do cơ bản, đặc biệt là quyền lập hội, lập đảng và quyền tự do ngôn luận để ảnh hưởng chính sách công. Nếu công dân không có quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do lập đảng và quyền tự do bầu cử, ứng cử, thì mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ rõ ràng đã không được thực hiện.

Công bằng không thể có nếu đặc quyền đặc lợi vẫn tập trung vào một nhóm người thân cận với đảng cầm quyền, hoặc vào khu vực quốc doanh. Một xã hội công bằng ít nhất cần bảo đảm cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người trong tiếp cận giáo dục, chăm sóc y tế, an sinh xã hội, cũng như mở ra cơ hội thăng tiến bình đẳng cho mọi thành phần xã hội.

Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí là quyền hiến định của công dân. Các quyền này cũng được quy định tại điều 19 và điều 20 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, cũng như tại các điều 19, 21, 22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự – chính trị.

Kể từ khi thành lập vào tháng 5 năm 2006, Nhà nước Việt Nam chưa có văn bản chính thức hay bản án pháp lý nào thách thức tính hợp pháp của Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Việc thành lập và các hoạt động ôn hòa của Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ là hoàn toàn hợp pháp, hợp hiến và phù hợp với công pháp quốc tế.

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.