Huy động vốn cho giáo dục đại học tại Indonesia, Việt Nam và Thái Lan

Hoàng Lan lược dịch
Trích từ Phía Trước
Bruce Chapman,
EAF

Giáo sư Bruce Chapman, người hiện giảng dạy kinh tế và tác động chính sách tại đại học Quốc gia Úc, cho rằng các chính phủ ở Đông Nam Á sẽ tìm cách huy động vốn cho giáo dục đại học, trước sức ép của tăng trưởng kinh tế, và để duy trì tăng trường kinh tế. Sự khó khăn ở đây là kể cả khi chính phủ thiết lập một hệ thống cho sinh viên vay vốn để trả chi phí đại học tại Việt Nam, nợ sau đại học có thể là một gánh nặng đáng kể cho sinh viên đã tốt nghiệp nếu không có sự trợ cấp hoặc can thiệp của chính phủ vào thị trường vốn để giảm bớt gánh nặng trả nợ cho sinh viên mới ra trường.

Nhu cầu vốn con người trong các quốc gia châu Á có thu nhập trung bình đang gia tăng, vì vậy, số sinh viên đại học và số sinh viên ra trường sẽ tăng trong thời gian tới. Giáo dục đại học là một sự đầu tư vào vốn con người để sinh viên có thể thu “lời” với thu nhập cao hơn. Tuy vậy, giáo sư Chapman cho rằng nếu chỉ vào dựa vào sự vận hành của thị trường thì sẽ khó khăn cho những sinh viên muốn vay tiền. Sinh viên có thể bỏ học giữa chừng, không kiếm được việc làm, và số thu nhập sau khi tốt nghiệp không có gì chắc chắn. Vì vậy, các ngân hàng sẽ không mặn mà với việc cho sinh viên vay vốn, ngay kể cả khi một phần chi phí đại học được trợ cấp bởi chính phủ.

Vì vậy, việc chính phủ can thiệp vào việc huy động vốn cho giáo dục đại học là cần thiết. Thông thường, việc này đòi hỏi chính phủ cam kết sẽ trả nợ thay cho các sinh viên nếu các sinh viên không đủ khả năng trả nợ sau khi ra trường. Tuy vậy, chế độ vay vốn cho sinh viên thông dụng nhất là chế độ trả nợ sau khi tốt nghiệp: sinh viên cam kết sẽ trả các phần cố định của món nợ sau khi ra trường. Điều này có thể tạo “gánh nặng  trả nợ” đáng kể lên sinh viên mới ra trường

Đặt giả thuyết về gánh nặng trả nợ sau khi ra trường tại Việt Nam và Indonesia, dựa trên chi phí giáo dục hiện tại và một kế hoạch trả nợ trong vòng 10 năm, gánh nặng trả nợ cho sinh viên mới ra trường tại Việt Nam và Indonesia sẽ là khá lớn. Tại Indonesia, các sinh viên đã tốt nghiệp, nếu kiếm được việc làm có lương khá, sẽ phải chi khoảng 20 đến 30 phần trăm tiền lương mỗi năm để trả nợ. Nhưng với sinh viên mới ra trường với thu nhập thấp, gánh nặng trả nợ chiếm khoảng 40 đến 80 phần trăm tiền lương mỗi năm. Tương tự, ở Việt Nam, gánh nặng trả nợ sẽ có khả năng chiếm khoảng 12 đến 25 phần trăm cho những người may mắn có lương bổng khá, và khoảng 40 đến 80 phần trăm cho những người kém may mắn hơn.

Trong khi đó, tại Thái Lan, nơi đã thiết lập hệ thống cho sinh viên vay vốn, gánh nặng trả nợ của sinh viên đã ra trường thấp hơn, khoảng 8 đến 22 phần trăm tiền lương hàng năm đối với những người có thu nhập thấp. Điều này chứng tỏ hai điều: thu nhập tương đối cao của các sinh viên mới ra trường ở Thái, và sự trợ cấp đáng kể của chính phủ Thái cho hệ thống cho sinh viên vay vốn.

Thông thường, gánh nặng trả nợ được coi là hợp lý thì không quá 18 phần trăm tổng số thu nhập trong các quốc gia có mức thu nhập trung bình khá. Trên tiêu chí này, gánh nặng trả nợ trong giả thuyết của Indonesia và Việt Nam là cực kỳ cao, và sẽ gây nhiều khó khăn cho các sinh viên mới ra trường, thậm chí có nhiều khả năng họ sẽ thất bại trong việc trả nợ đúng kế hoạch. Điều này chỉ càng làm nhụt chí kế hoạch đầu tư vào phát triển vốn con người.

Một chế độ cho sinh viên vay vốn khác, được áp dụng ở Úc, Tân Tây Lan, Anh, Hungary và Chile, ICL (income contingent loans) – số nợ được tính theo thu nhập, có thể được cân nhắc. Trong hệ thống này, việc trả nợ được tính toán dựa trên thu nhập của sinh viên mới tốt nghiệp, và bị hạn chế ở ngưỡng 8 đến 10 phần trăm số thu nhập hàng năm của sinh viên đó. Hệ thống này không đặt gánh nặng quá lớn lên sinh viên và giảm thiểu nguy cơ không trả được nợ đúng kỳ hạn. Hơn nữa, việc thu hồi nợ qua hệ thống thuế thu nhập sẽ khiến các sinh viên mới tốt nghiệp khó trốn được việc trả nợ.

Tuy vậy, hệ thống ICL này chỉ có thể áp dụng được ở những nước đã có hệ thống ghi chép và lưu giữ chính xác số nợ của sinh viên, một hệ thống thu thuế trong sạch trong việc lưu giữ sổ sách (gần như đã số hóa), và một phương cách hiệu quả để xác định được số thu nhập thực sự của sinh viên. Trong nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, Indonesia và Thái Lan, điều này có thể chưa tiến hành ngay được.

Các chính phủ của Indonesia, Việt Nam và có lẽ cả Thái Lan, có nhiều khả năng sẽ tìm cách mở rộng khu vực giáo dục đại học để duy trì phát triển kinh tế. Nhưng để điều này được thực hiện một cách hiệu quả và công bình, họ cần tránh các gánh nặng trả nợ quá lớn. Các chính phủ này có thể cần cải cách hệ thống – đặc biệt là hệ thống thuế thu nhập – để giải quyết các khó khăn trong việc huy động vốn cho giáo dục đại học.

H.L.

Bruce Chapman –  Financing Higher Education in Indonesia, Vietnam and Thailand, 06/08/2012,

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.