Một số vấn đề lý luận về xây dựng tiêu chí và phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp

Bùi Ngọc Sơn
Nguồn: Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc Hội)

Tổng kết Hiến pháp là việc đánh giá các kết quả đạt được của Hiến pháp, tức là xem việc thực thi Hiến pháp đóng vai trò như thế nào trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật. Việc đánh giá rất đa dạng do có nhiều cách tiếp cận Hiến pháp khác nhau. Tổng kết việc thực thi Hiến pháp cũng là việc đánh giá xem Hiến pháp có phù hợp với những điều kiện mới không (so với những điều kiện áp dụng Hiến pháp ở nước ngoài). Tuy nhiên, các xã hội khác nhau thường có ý kiến khác nhau trong việc xác định thế nào là “phù hợp”. Việc đánh giá Hiến pháp bao hàm cả việc chỉ ra những thành công và hạn chế trong việc thực thi Hiến pháp.

Vậy, ai được cho là người hưởng thụ những thành quả Hiến pháp hoặc chịu thiệt thòi từ sự yếu kém của các thể chế hiến định? Họ là các tổ chức Đđảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các thẩm phán, luật sư hay công dân? Câu hỏi này phụ thuộc nhiều vào những tổng kết được đánh giá bởi người ban hành Hiến pháp, người áp dụng Hiến pháp hay người thi hành Hiến pháp. Xuất phát từ những khó khăn đó, việc đánh giá, tổng kết Hiến pháp cần phải được thực hiện theo những tiêu chí và phương pháp đúng đắn.

1. Các tiêu chí đánh giá Hiến pháp

Đánh giá Hiến pháp là một công việc phức tạp và bắt buộc phải có khi ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp. Cũng chính vì sự đa dạng trong cách thức tổng kết Hiến pháp nên việc đưa ra các tiêu chí đánh giá Hiến pháp đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Việc xác định tiêu chí phần nào mang tính chủ quan, phụ thuộc nhiều vào việc ai là người đặt ra các tiêu chí đó1. Các Chính phủ thường đặt ra các tiêu chí ngắn và trung hạn, trong khi những nhà quan sát tìm kiếm các tiêu chí dài hạn và phổ quát. Tại Hội thảo quốc tế về Quy trình ban hành Hiến pháp diễn ra ở Đại học Princeton2, nhiều học giả đã khẳng định nhận định trên và đưa ra các tiêu chí đánh giá Hiến pháp làm tiêu chuẩn cho việc ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp. Các tiêu chí đánh giá Hiến pháp mang tính dài hạn và phổ quát bao gồm:

1.1. Tính bền vững của Hiến pháp

Một bản Hiến pháp có tính bền vững thể hiện thông qua tính hiệu lực lâu dài, ổn định của nó. Với tư cách là đạo luật cơ bản và tối cao, Hiến pháp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội, do vậy, nó thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước, nhân dân và toàn xã hội. Ngược lại, một Hiến pháp được thay thế, sửa đổi thường xuyên không thể hiện tính “tối cao” và “cơ bản” của Hiến pháp. Nó được coi là Hiến pháp danh nghĩa.

Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng, tính bền vững không trực tiếp là một tiêu chí để đánh giá sự thành công của Hiến pháp. Sự thay đổi (ban hành mới hoặc sửa đổi) Hiến pháp có thể nhằm những mục đích tích cực, như để giải quyết các mâu thuẫn, các vấn đề hiến pháp, cải cách và đổi mới dân chủ đáp ứng các yêu cầu “chuyển đổi”3. Ngoài ra, Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa với phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả các chế định về kinh tế – xã hội, nên phải được sửa đổi thường xuyên hơn để phù hợp với sự thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội. Những sửa đổi như vậy là tích cực, nhưng cũng phải chỉ ra rằng, sửa đổi theo kiểu “vá săm xe đạp” là một biện pháp ngắn hạn và có nhiều hạn chế. Các nhà đổi mới cần phải có những cải cách mạnh dạn, mang tính đột phá để đảm bảo tính bền vững của Hiến pháp.

1.2. Phát huy việc giải quyết tranh chấp bằng các cơ chế hiến định

Hiến pháp là bản thoả thuận giữa các tầng lớp xã hội nhằm đảm bảo sự đồng thuận và cuộc sống hoà bình. Do vậy, Hiến pháp có mục đích thay cách thức giải quyết mẫu thuẫn, xung đột bằng bạo lực, “luật rừng” bởi các quy trình và thể chế hiến pháp. Nói cách khác, khi thấy quyền hiến định của mình bị vi phạm, thay vì sử dụng bạo lực, “luật rừng” và các luật bất thành văn khác (luật bôi trơn, luật thân quen…), người ta sẽ sử dụng Hiến pháp để giải quyết các tranh chấp đó.

Mức độ đảm bảo sự đồng thuận và giảm bạo lực thông qua các quy định hiến pháp thể hiện mức độ thành công của Hiến pháp. Một bản Hiến pháp không định dạng được các cơ chế giải quyết tranh chấp hiến pháp giữa các quan nhà nước, giữa Nhà nước với công dân, giữa các công dân với nhau thì không thể coi là một bản hiến pháp thành công. Tài phán hiến pháp là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp hiến pháp hữu hiệu.

1.3. Tính công khai và sự hiểu biết về Hiến pháp

Khi đánh giá sự thực thi Hiến pháp, điều quan trọng là xem xét mức độ hiểu biết của xã hội về các quy định của Hiến pháp. Mức độ hiểu biết thể hiện thông qua kiến thức, sự đồng thuận của Nhà nước và nhân dân về các thể chế, nguyên tắc hiến pháp.

Một bản Hiến pháp tốt nhất theo tiêu chí này có nghĩa là xã hội có đầy đủ kiến thức cũng như sự đồng thuận với các giá trị của Hiến pháp, thể hiện rõ ràng thông qua việc các chủ thể hiến pháp sẵn sàng sử dụng các cơ chế hiến pháp để giải quyết tranh chấp. Nhân dân chấp nhận các nền tảng cơ bản của Hiến pháp và giải quyết các tranh chấp của mình thông qua những quy trình hiến định. Thiên hướng sử dụng các thiết chế hiến pháp thể hiện mức độ thành công của Hiến pháp. Thông qua việc sử dụng các quy định hiến pháp, người dân thấy được vai trò của họ và sử dụng chúng để giải quyết các vấn đề của mình.

Để hiểu được mức độ hiểu biết của xã hội và tính công khai của Hiến pháp, chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi như: “Trong một tranh chấp chính trị, tất cả các bên có cố gắng hết sức để lập luận rằng quyền lợi của họ là hợp hiến, còn quyền lợi của những người khác là không hợp hiến?”; “Nếu Hiến pháp thực sự được thực hiện, điều quan trọng là nhân dân hiểu được những gì trong Hiến pháp, làm thế nào họ có thể biết trách nhiệm của Chính phủ?”4.

1.4. Bảo vệ các quyền và tự do cá nhân trong Hiến pháp

Hiến pháp quy định các quyền dân sự, chính trị và có những cơ chế để bảo vệ các quyền đó. Mức độ nhân dân thực hiện các quyền của mình trong đời sống chính trị – xã hội, mức độ hiệu quả của các cơ chế hiến pháp trong việc bảo vệ các quyền dân sự, chính trị thể hiện mức độ thành công của Hiến pháp. Ngược lại, đó là sự thất bại.

Tính bảo đảm các quyền và tự do cá nhân phụ thuộc nhiều vào các tiêu chí đánh giá khác của Hiến pháp, như sự đồng thuận, mức độ hiểu biết của xã hội về Hiến pháp. Ngược lại, bảo vệ các quyền cá nhân cũng là điều kiện để đảm bảo các tiêu chí trên. Ví dụ: việc vi phạm các quyền và tự do công dân có thể dẫn đến sự mất lòng tin của nhân dân vào các cơ chế hiến định, thậm chí dẫn đến tình trạng mâu thuẫn lớn và bạo lực trong xã hội.

1.5. Tính trách nhiệm của chính quyền trong Hiến pháp

Hiến pháp được ban hành và thực thi nhằm giới hạn và kiểm soát quyền lực để tránh mọi sự lạm dụng quyền lực, từ đó đảm bảo trách nhiệm của chính quyền. Để bảo đảm được điều đó, Hiến pháp quy định cơ chế kiểm soát, phân quyền và bảo vệ các quyền tự do cá nhân. Trong các cơ chế trên, các Toà án, trong đó có Toà hiến pháp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo trách nhiệm của Nhà nước.

Trong giai đoạn hiến pháp chuyển đổi, nhiều nước ở châu Á chủ trương xây dựng hệ thống các cơ quan kiểm soát quyền lực để giải quyết các vấn đề hiến pháp tồn tại từ lâu trong lịch sử, như tình trạng lạm dụng quyền lực, tham nhũng tràn làn, bất ổn chính trị. Các cơ quan thực hiện thức năng kiểm soát quyền lực rất đa dạng, bao gồm Toà hiến pháp, Toà hành chính, Uỷ ban chống tham nhũng, Uỷ ban nhân quyền, Cơ quan giám sát của Nghị viện – Ombudsman. Trong các nền chính trị chuyển đổi, nhiều cơ quan giám sát độc lập đã phát huy vai trò đảm bảo trách nhiệm của chính quyền. Việc thiết lập một Toà hiến pháp độc lập như ở Thái Lan và Hàn Quốc là cải cách hiến pháp quan trọng nhất, góp phần xây dựng “chủ nghĩa hiến pháp mới” ở châu Á.

1.6. Tính thực thi của các quy định Hiến pháp

Một bản Hiến pháp thành công là một bản hiến pháp mà các quy định của nó được thực thi trên thực tiễn. Đó là một bản Hiến pháp thực chất. Nếu như những quy định của Hiến pháp chỉ là bản tuyên bố các tuyên ngôn chính trị, thì đó là một bản Hiến pháp danh nghĩa. “Suy cho cùng, hiệu quả của Hiến pháp được thể hiện khi nó đạt được tính khả thi, tính áp dụng cao. Đó là thước đo thực tế của Hiến pháp”5.

Ở Việt Nam, Hiến pháp được coi là một bản tuyên ngôn chính trị hơn là một đạo luật có giá trị trực tiếp. Trong chương Về quyền và nghĩa vụ công dân, có nhiều quyền còn mang tính hình thức, chưa được đảm bảo trong thực tế. Những vấn đề này phải được đánh giá kỹ càng để có những sửa đổi phù hợp.

1.7. Khả năng thích nghi của Hiến pháp

Tổng kết việc thực thi Hiến pháp, như trên đã trình bày, là việc đánh giá xem Hiến pháp có phù hợp với những điều kiện mới không. Do đó, nếu một Hiến pháp thành công, nó có khả năng phù hợp, thích nghi với những điều kiện và hoàn cảnh mới.

Ở các quốc gia châu Phi và châu Á, Hiến pháp gặp khó khăn trong việc thích nghi với những điều kiện văn hoá, chính trị – xã hội mới. Một số nước đã giải quyết được những vấn đề hiến pháp, trong khi nhiều nước vẫn đang cố gắng thực hiện những cải cách hiến pháp đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi.

2. Phương pháp đánh giá Hiến pháp

2.1. Tạo những diễn đàn tranh luận đa dạng để nhân dân tham gia vào quá trình tổng kết, đánh giá và soạn thảo Hiến pháp

Vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, phản ánh lợi ích của các nhóm lợi ích, tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội, nên điều quan trọng là làm thế nào để họ được quyền tranh luận, trao đổi, bày tỏ quan điểm, đánh giá của mình; và quan trọng hơn, những ý kiến, quan điểm của họ được lắng nghe. Mặc dù những điều kiện trên phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh thực tế6, nhưng phương pháp trên cho phép nâng cao tính trung thực của các đánh giá Hiến pháp. Việc tổng kết Hiến pháp cần phải được thực hiện bằng nhiều hình thức và mô hình khác nhau, từ Hội đồng lập hiến, Uỷ ban sửa đổi hiến pháp, các hội nghị, hội thảo quốc gia, các cuộc tranh luận bàn tròn ở trung ương và địa phương, các hoạt động đánh giá của các cơ quan hành pháp, các quy trình tiếp xúc và làm việc với cử tri7.

Hội đồng lập hiến, các Uỷ ban sửa đổi là các cơ quan trực tiếp tiến hành công việc đánh giá việc thực thi Hiến pháp hiện hành (hoặc trước đó) và soạn thảo một Hiến pháp mới. Có nước thành lập Hội đồng lập hiến thông qua việc bầu cử trực tiếp nhằm phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp. Việc lập một Uỷ ban sửa đổi hiến pháp thuộc Quốc hội cũng được nhiều nước lựa chọn. Để đảm bảo tính dân chủ của Hiến pháp, các thành phần mở rộng được chọn lựa vào Uỷ ban này. Ví dụ như Thái Lan, năm 1995, Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập để soạn thảo một bản Hiến pháp mới. Uỷ ban gồm 89 thành viên, trong đó 66 thành viên được chọn từ các tỉnh, mỗi tỉnh một đại diện. Số còn lại là các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học pháp luật, chính trị và hành chính công, được đề cử bởi các trường đại học và thông qua bởi Nghị viện8.

Để bảo đảm sự tham gia nhiều hơn của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, các Hội nghị quốc gia được lựa chọn để đánh giá và tham gia vào quá trình cải cách Hiến pháp. Các hội nghị này thường có số lượng thành viên rất lớn đại diện cho các đảng phái, cơ quan nhà nước, các nhóm lợi ích, các tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ. Số lượng có thể từ vài trăm đến vài nghìn người. Các hội nghị này có thể thành lập các Uỷ ban, Hội đồng để trực tiếp đánh giá các vấn đề chuyên môn để trình và tư vấn cho hội nghị.

Để có những đánh giá Hiến pháp một cách hữu hiệu nhất, nhiều nước coi trọng việc tổ chức các cuộc tranh luận bàn tròn giữa các nhân vật chủ chốt như các đảng phái, các nhà hoạt động xã hội và các nhà cải cách. Các cuộc thảo luận và đóng góp ý kiến ở các địa phương, với sự điều hành của các Uỷ ban tham gia sửa đổi hiến pháp và sự tham gia của nhân dân cũng là nhân tố quan trọng cho việc đánh giá Hiến pháp. Ở Thái Lan, trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1997, rất nhiều cuộc tranh luận về cải cách hiến pháp đã được thực hiện bởi nhiều các nhóm xã hội khác nhau, trong đó có các nhà nghiên cứu, các nhà luật học và các chính trị gia. Nhờ vào những tranh luận này, rất nhiều vấn đề về văn hoá – chính trị Thái Lan đã được tổng kết: “sự thiếu vắng minh bạch”, “tham nhũng”, “sự bất ổn của các Chính phủ dân sự” và “sự thiếu hiệu quả của các thể chế chính trị”9

Bằng những hình thức đa dạng, kín hoặc mở, ở trung ương hoặc địa phương, giữa các chính trị gia hoặc có sự tham gia của nhân dân sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu những vấn đề hiện có của Hiến pháp để xây dựng một Hiến pháp tốt hơn trong tương lai. Việc ban hành bất kỳ một Hiến pháp nào cũng đều phải có sự tham gia của nhân dân, và mức độ tham gia của nhân dân thể hiện tính hợp pháp và giá trị của Hiến pháp đó. Người dân phải có quyền được thông tin về chính sách sửa đổi hiến pháp, có quyền bảy tỏ các ý kiến đánh giá Hiến pháp hiện tại cũng như những nguyện vọng cho một bản Hiến pháp trong tương lai. Báo chí cần phải là một kênh quan trọng để nhân dân thực hiện các quyền đó.

Việc sửa đổi Hiến pháp ở Thái Lan năm 1997 là ví dụ điển hình ở châu Á thể hiện tầm quan trọng của nhân dân vào trong quá trình đánh giá, sửa đổi Hiến pháp. Nhiệm vụ của Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp, như người đứng đầu, bà Borwornsak Uwanno, đã nhấn mạnh, là để hiện thực hoá “tất cả những gì người dân nói tại một văn bản pháp lý”10. Dự thảo hiến pháp đầu tiên vào tháng 5/1997 là kết quả của rất nhiều xem xét các văn bản do các cơ quan khác nhau đệ trình, như các nhóm chính trị, các tổ chức phi chính phủ, các trung tâm học thuật và công chúng. Bước thứ 2, Uỷ ban tiếp tục tổ chức rất nhiều các cuộc thảo luận ở tất cả các tỉnh để xin ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo đầu tiên này. Hai giai đoạn này chưa từng có trong tiền lệ soạn thảo Hiến pháp ở Thái Lan, nhằm tập hợp tối đa các ý kiến và kiến nghị cho một bản Hiến pháp trong tương lai, đã góp phần to lớn vào việc thu hút sự quan tâm và chú ý lớn của quần chúng nhân dân vào quy trình sửa đổi Hiến pháp. Sự tham gia của nhân dân vào quá trình sửa đổi Hiến pháp 1997 là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của bản Hiến pháp này so với các bản Hiến pháp trước đó11.

2.2. Đánh giá sự thực thi Hiến pháp theo cách tiếp cận so sánh

Việc viện dẫn đến pháp luật nước ngoài để đánh giá và cải cách pháp luật trong nước là hết sức cần thiết. Một sự hiểu biết sâu sắc các hệ thống pháp luật nước ngoài cũng như những rào cản đối với việc hoà nhập của hệ thống pháp luật trong nước là chìa khoá để tổng kết và đổi mới pháp luật12. Như đánh giá của các nhà luật học so sánh người Đức Zweigert và Kötz, “các nhà lập pháp trên toàn thế giới đều đã chỉ ra rằng, bằng nhiều cách thức khác nhau, các đạo luật tốt không thể được làm ra mà không có sự trợ giúp của luật so sánh”13. Việc đánh giá Hiến pháp cũng phải đặt trong bối cảnh so sánh như vậy.

Đối với quá trình chuyển đổi Hiến pháp ở các nước châu Á, có nhiều kinh nghiệm được rút ra cho các nước trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, trong việc tổng kết và cải cách hiến pháp. Trong trào lưu dân chủ hoá và giành độc lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, hầu hết các nước châu Á đều soạn thảo Hiến pháp. Nhưng mặc dù tồn tại một bản Hiến pháp, nhiều quốc gia châu Á vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các tư tưởng của chủ nghĩa lập hiến tự do phương Tây14. Tuy nhiên, trong trào lưu “chủ nghĩa hiến pháp mới” từ cuối những năm 1980, đặc biệt là những năm 1990, nhiều Hiến pháp được đổi mới, cải cách nhằm nâng cao các thiết chế dân chủ, các quyền, tự do cá nhân và Nhà nước pháp quyền15. Những bài học về thành công và thất bại cũng như những điều kiện của chúng có ý nghĩa rất lớn cho Việt Nam trong việc đánh giá một cách nghiêm túc Hiến pháp hiện hành.

(*) TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

(1) Trong Hội thảo “Xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992” do Viện Nghiên cứu Lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức, các nhà khoa học trình bày rất nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định các tiêu chí tổng kết Hiến pháp, xem: GS,TSKH. Đào Trí Úc, Tổng kết Hiến pháp và các tiêu chí tổng kết Hiến pháp; GS,TS. Trần Ngọc Đường, Xây dựng các tiêu chí tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992; PGS,TS. Đặng Văn Thanh, Tiêu chí tổng kết và sửa đổi Hiến pháp – Sự cần thiết, phương pháp luận và nguyên tắc thiết lập; TS. Vũ Hồng Anh, Tiêu chí tổng kết thi hành Hiến pháp 1992; Bùi Ngọc Sơn, Các tiêu chí xác định sự phát triển hiến pháp trên thế giới và vai trò của chúng trong việc sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam.

(2) Workshop on Constitution Building Processes,” Princeton University, May 17-20, 2007, Bobst Center for Peace & Justice, Princeton University, in conjunction with Interpeace and International IDEA.

(3) Bùi Ngọc Sơn, Hiến pháp Việt Nam trong cách nhìn chuyển đổi, Vietnamnet, 20/04/2011, http://tuanvietnam. vietnamnet.vn/2011-04-20-hien-phap-viet-nam-trong-cach-nhin-chuyen-doi.

(4) Workshop on Constitution Building Processes, tlđd.

(5) Đào Trí Úc, Tlđd. Quan điểm này cũng được nhiều học giả tham dự Hội thảo chia sẻ, xem TS. Vũ Hồng Anh, tlđd.

(6) Mức độ tham gia của các tầng lớp xã hội trong quá trình sửa đổi Hiến pháp, trong đó có đánh giá việc thực thi Hiến pháp phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh chính trị tại thời điểm sửa đổi Hiến pháp: chính trị xung đột hay hoà bình, dân chủ hay độc tài, văn hoá chính trị, báo chí và sự phát triển kinh tế…

(7) Workshop on Constitution Building Processes, tlđd.

(8)Borwornsak Uwanno,Wayne D. Burns, “The Thai Constitution of 1997 sources and process”, Thanland Law Forum, http://www.thailawforum.com/articles/constburns1.html.

(9) Peter Leyland, “Constitution Design and the Quest for Good Gouvernance in Thailand”, in Tania Groppi, Valeria Piergigli, Angelo Rinella, Asia constitutionnalism in transition. A comparative perspective, Giuffrè, Milano, 2008, tr. 71.

(10) Borwornsak Uwanno, tlđd.

(11) Niyom Rathamart, “The 1997 Constitution: the path of reform”, Centre for Democratic Institution, http://www.cdi.anu.edu.au/CDIwebsite_1998-2004/thailand/thailand_downloads/Niyom_ThaiUpdate_Apr03.pdf.

(12) Marie-Claire Ponthoreau, “L’argument de droit comparé” et les processus d’hybridation des droits. Les réformes en droit administratif francais”, in L’argument de droit comparé en droit administatif francais, sous la direction de Melleray Fabrice, Bruxelles, Brulant, 2007, tr. 28.

(13) K. Zweigert, H. Kötz, An introduction to Comparative Law, (trad. A. Weir) Oxford University Presses, Oxford, 3e ed, 1995, tr. 237.

(14)Andrew Harding, “Asian Law, Public Law, Comparative Law. Stir-fly: Theory and methods considered”, in Tania Groppi, Valeria Piergigli, Angelo Rinella, Asian Constitutionalism in Transition. A Comparative Perspective, tài liệu đã dẫn, tr. 29-30; Giuseppe De Vergottini, “Asian constitutionalism: The limits of the western model”, in Tania Groppi, Valeria Piergigli, Angelo Rinella, Asian Constitutionalism in Transition. A Comparative Perspective, như trên, tr. 378.

(15) Tania Groppi, “Does Asia exist?”, “, in Tania Groppi, Valeria Piergigli, Angelo Rinella, Asian Constitutionalism in Transition. A Comparative Perspective, như trên, tr. 4.

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.