Quan niệm về ‘nhà văn hóa lớn’

Thiên Phúc
CTV Phía Trước

Tôi đã đọc bài viết Thời vắng những nhà văn hóa lớn? của tác giả Trần Hữu Dũng và cảm thấy mình cần có sự trao đổi về vấn đề ông đặt ra. Xem ra, trong vô vàn những hiện tượng của đời sống, đôi khi tùy thuộc vào cách nhìn, cách quan niệm của mỗi người mà cuộc sống hiện lên với những hình sắc và phong vị khác nhau. Riêng tôi, tôi tin rằng thời đại ngày hôm nay, chúng ta vẫn có những nhà văn hóa lớn đáng để ta ngợi ca và tự hào.

Trước hết, quan niệm về nhà văn hóa của tôi khác hẳn với tác giả bài viết. Theo ông thì:

Thế nào là một nhà văn hoá lớn? Tất nhiên, xã hội nào cũng có những trí thức, những người tham gia (có thể rất tích cực) vào hoạt động văn hoá trong lãnh vực này hoặc lãnh vực nọ… Song, những nhà văn hoá lớn có một vai trò vượt trội những trí thức khác, và không phải bất cứ xã hội nào, lúc nào cũng có những nhà văn hoá như thế. Đó là những người mà sự uyên thâm và nhất là tính kiên trì nghiên cứu (nhiều khi lặng lẽ), năng suất làm việc phi thường (hàng mấy chục quyển sách, hàng trăm bài báo, chằng hạn) hầu như là huyền thoại trong dân gian. Chính tư tưởng của họ “định nghĩa” tính thời đại của một nền văn hoá. Nhà “văn hoá lớn”, nói cách khác, là người có những suy nghĩ vừa sâu vừa rộng, đưa ra những khám phá, lập luận, có tính tổng hợp, liên ngành (ví dụ như lịch sử văn học, triết học nhân chủng học), không bị giới hạn trong một ngành chuyên môn nào. Nhà văn hoá lớn là người có những ý tưởng độc đáo, hoặc có biệt tài tổng kết nhiều luồng tư tưởng khác nhau, từ nhiều lãnh vực khác nhau. Người ấy luôn luôn bám chặt vào những tiêu chuẩn học thuật cao nhất. Qua công việc nghiên cứu của họ, họ khơi dậy sự quan tâm, nâng cao trình độ thảo luận về những vấn đề lịch sử, xã hội, văn minh… nói chung là văn hoá.

Một nhà văn hoá lớn còn phải là một nhà văn hoá dấn thân, nghĩa là, dù tư tưởng của họ có trừu tượng đến mấy, sự chọn lựa chủ đề của họ, hoặc cách tiếp cận chủ đề ấy, luôn luôn có một khiá cạnh nhân bản, hoặc là xuất phát từ những sự trăn trở đối với những vấn đề căn bản của xã hội, của con người (đặc biệt là, nếu hoàn cảnh bắt buộc, những vấn đề liên hệ đến tự do và nô lệ, đến chiến tranh và hoà bình). Nếu đã được đào luyện như là nhà khoa học, một nhà văn hoá lớn có trách nhiệm suy nghĩ về tính nhân văn, tính xã hội của ngành khoa học ấy. Văn hoá, tự thân, là một hiện tượng công cộng. Nhà văn hoá lớn có khả năng khuếch trương tính công cộng của khoa học mà không hi sinh chuẩn mực học thuật. Một nhà văn hoá lớn cống hiến cho xã hội một hệ tư tưởng, nhất là trong lãnh vực xã hội và nhân văn, có khả năng khuấy động những trao đổi, đóng góp của những người khác trong lãnh vực ấy, và qua đó, làm giàu cho sinh hoạt tư tưởng của xã hội.

Nhà văn hoá lớn ngày nay cần phải theo dõi khít khao các luồng tư tưởng về văn hoá, chính trị, kinh tế… thế giới, bởi thế khả năng ngoại ngữ là cần thiết. Tuy nhiên, một nhà văn hoá lớn Việt Nam phải là người nhìn những luồng tư tưởng ấy qua lăng kính dân tộc và văn minh của người Việt Nam. Nói khác đi, một nhà văn hoá lớn phải đặt vấn đề văn minh của dân tộc (dù chỉ để phủ nhận nó, nếu muốn!) làm một trọng điểm của ý thức. Kiến thức là thiết yếu, nhưng một nhà văn hoá lớn phải đem kiến thức ấy phục vụ mục đích nhân văn. Nhà văn hoá lớn ngày nay phải thấm nhiễm tư duy “toàn cầu hoá” nhưng cũng phải có một thái độ rạch ròi về hậu quả của hiện tượng này đến những vấn đề quốc gia và dân tộc”.

Có lẽ đây là một trong những quan niệm dài hơi nhất về khái niệm nhà văn hóa mà tôi từng được biết. Nó không thuần túy là một định nghĩa nữa mà trở thành một hệ thống tiêu chí để xét xem ai có thể được gọi là nhà văn hóa. Quan niệm của tôi cho rằng hệ thống tiêu chí này vừa ơm đờm mà lại vừa thiếu. Người viết quá thiên về những đối tượng trong lĩnh vực nghiên cứu, viết lách (những gì liên quan đến văn hóa) mà bỏ qua những con người là hiện thân, là chủ thể của một trong những bộ phận, lĩnh vực thuộc về văn hóa. Nếu theo tiêu chí trên, cũng như những đối tượng được tác giả cho là nhà văn hóa thời trước như Đào Duy Anh, Nguyễn Hiến Lê, Trần Đức Thảo…thì cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đều không được gọi là những nhà văn hóa lớn. Bởi người viết chỉ chú trọng đến những đối tượng nghiên cứu mà bỏ qua các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ có thành tựu đỉnh cao và cống hiến to lớn.

Nguyễn Tuân, Xuân Diệu tuy chỉ là nhà văn nhà thơ nhưng họ vẫn được xem là những nhà văn hóa lớn. Khái niệm nhà văn hóa không nên cầu toàn cực đoan theo kiểu tác giả. Bản thân văn hóa là một phạm trù rộng, trừu tượng. Muốn xét diện mạo cụ thể của nó phải xem từng bộ phận cấu thành nên nó, đó là triết học, là văn chương, là hội họa, âm nhạc… Những nhà văn hóa lớn không phải chỉ là những nhà nghiên cứu, mà một trong những bộ phận quan trong nhất không thể không kể tên đó chính là những nhà nghệ sĩ kiệt xuất.

Quan niệm của người viết có phần hàn lâm, tổng hợp chung chung. Bản thân các ngành văn chương, hội họa, triết học, âm nhạc đóng vai trò là những thành tố quan trọng của chỉnh thể một nền  văn hóa. Tất cả trong mối quan hệ cùng tác động lẫn nhau. Do đó bản thân các ngành đó đã chịu sự chi phối chung của bức màng văn hóa, không gian văn hóa. Các ngành nghệ thuật, triết học muốn tồn tại và khẳng định sự tồn tại của mình phải chịu sự quy định tương đối của nền văn hóa. Do vậy, nói cho cụ thể, một cá nhân, đạt thành tựu cao trong một bộ phận nào đó của văn hóa thì đã xứng tầm là nhà văn hóa lớn rồi.

Tôi không phủ nhận những người mà tác giả bài viết kể đều xứng đáng là những nhà văn hóa lớn. Song nên chăng chúng ta xem xét lại khái niệm nhà văn hóa lớn.

Với tôi thời hiện đại hôm nay, những con người như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, GS Trần Văn Khê, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đều xứng đáng gọi là những nhà văn hóa lớn. Nói là nhà nhạc sĩ, nhưng với Trịnh Công Sơn tất cả đâu chỉ có giai điệu và ca từ. Thẩm thấu trong từng âm điệu từng lời ca ấy là sự hấp thụ tinh tế tinh thần triết học tuyệt mĩ từ Thiền đến hư vô, từ hiện sinh đến phi lí. Nhạc ấy đánh động đến nhân tâm, đến tâm linh như tiếng vang vọng từ miền tịch diệt cô liêu nào đó khiến trí khôn con người bàng hoàng sực tỉnh. Nhạc của Trịnh là nhạc triết học, âm nhạc của trí tuệ bát nhã đạt tầm phổ quát nhân loại. Không biết bao triệu con người Việt trong và ngoài nước mê đắm âm nhạc của ông. Biết bao nhà nghiên cứu thế giới ngẩn ngơ truy tìm ẩn ngữ. Với tôi, từ sau Truyện Kiều, nếu chọn một hiện tượng văn hóa hiện đại nào xứng tầm sánh ngang làm nên vẻ đẹp lộng lẫy của nền văn hóa nước nhà thì đó chính là nhạc của Trịnh Công Sơn. Nó thậm chí còn vượt xa hơn Truyện Kiều ở khả năng vượt biên cương lãnh thổ, chinh phục trái tim và trí tuệ của con người ở những nền văn hóa khác nhau.

Còn nếu xét theo tiêu chí trên thì Trịnh Công Sơn lại không xứng đáng được gọi là nhà văn hóa lớn. Nhà văn hóa có thể là người nghiên cứu có công định hướng khai phá tư duy, cũng có thể là những nghệ sĩ có thành tựu xuất sắc. Không cần trực tiếp nghiên cứu, phát ngôn trực tiếp, những trang văn thổn thức của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng ca từ khắc khoải của Trịnh Công Sơn như thách đố trí khôn con người, như bắt con người chối bỏ những lí thuyết cũ kĩ về lẽ sống để tư duy được rộng mở, như dội vào xã hội nhiễu nhương dòng suối tinh thần tinh khiết để con người được thanh lọc… Trong nhạc có tư tưởng, trong văn chương có triết học thẩm thấu… Tuy truyện Thiệp có những lời lẽ dung tục, nhưng đó là xét trên bề mặt ngôn từ đặt trong một hoàn cảnh diễn ngôn hư cấu. Cái quan trọng là sự thành tâm, là tư duy bứt phá quyết phá bỏ nhữ ng thành trì tư tưởng mục ruỗng vốn chưa chịu thoái lui thì giá trị nhân văn và tư tưởng trong những trang viết của ông quả là thâm nho, tuyệt diệu… Còn gì nữa, ngay chính cuộc sống đương thời này đây, trước mắt ta là những nhà văn hóa lớn. Chỉ vì tâm lí định kiến của người đương thời và sự cầu toàn không tưởng đã làm tầm nhìn ta bị hạn hẹp.

Trịnh Công Sơn dĩ nhiên đã vươn đến tầm nhân loại, không còn gì bàn cãi về tầm vóc văn hóa của ông. Riêng Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng còn nhiều tranh cãi. Nhưng tôi tin, nửa thế kỉ tới, thế hệ con cháu sẽ nhận thức lại giá trị những trang văn của ông mà tôn vinh ông xứng đáng…

Và còn nhiều những con người khác nữa mà trong tầm nhìn hạn hẹp cá nhân tôi chưa nhận ra. Nhưng cái quan trọng tôi muốn khẳng định lại quan niệm về nhà văn hóa. Tai hại nhất chính là nhiều người còn tự phân lập văn hóa với văn chương, văn chương với nghệ thuật và văn hóa với nghệ thuật. Tất cả tồn tại trong một chỉnh thể vừa có quan hệ cộng sinh vừa có sự chuyển hóa quy định lẫn nhau. Nhà văn hóa  lớn là những người đạt thành tựu cao trong một bộ phận nhất định là đủ. Một khi đạt đến tầm vóc đỉnh cao tức là nghệ thuật vươn tới tầm văn hóa chứ không nên chỉ phân lập và tôn vinh riêng những cây bút hàn lâm chuyên viết về văn hóa. Tốt nhất nên nhìn những hiện tượng cụ thể chứ đừng sa vào lối công thức định nghĩa quy chụp để rồi chính nó sẽ là rào cản tầm nhìn của chúng ta. Những người cùng thời mấy ai thừa nhận Truyện Kiều và ngơi ca Nguyễn Du là nhà văn hóa lớn, rồi tố cho Truyện Kiều là dâm thư? Hồi Nguyễn Tuần còn sống, mấy người bạn toàn là giáo sư tự xưng danh là bạn rất thân và tiếp xúc nhiều với ông lại xổ toẹt giá trị sáng tác của ông trong các công trình bất lương của mình. Nực cười nhất là trong quyển sách Hai mươi nhà văn hóa thế kỉ XX của GS Phong Lê, đưa tên Nam Cao mà không có tên Nguyễn Tuân. Tất cả là do định kiến đố kị trong tâm lí của người đương thời khiến cho đôi mắt và tâm hồn không còn đủ sức quán chiếu mọi sự. Nếu muốn đánh giá một ai đó đúng với thành quả mà họ cống hiến trong lĩnh vực văn hóa, trước hết hãy tự mình phá vỡ đi bức tường vô hình đó, đặt mình vào thời đại 50 năm sau để nhìn thấy giá trị vượt thời gian của người đang cùng thời với mình.

© TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.