Thơ Thiền Việt Nam thời Lý – Trần

Khôi Nguyên
CTV Phía Trước

Nhắc đến tinh hoa trí tuệ của cha ông ta thời Lý – Trần là ta phải nói đến Phật giáo Thiền Tông. Đây cũng là dòng phái ta tiếp thu từ Phật giáo Trung Hoa song đã được cha ông ta dân tộc hóa một cách triệt để.

Phật giáo Thiền Tông không chú trọng tụng niệm hay xuất gia lánh đời mà có thiên hướng khai mở trí tuệ bát nhã của con người và quá trình thực nghiệm trong đời sống. Nhìn vào Thiền Tông, hiểu thật sâu bản chất của dòng phái này ta sẽ bất ngờ nhận ra, Phật học trước hết không phải là một tôn giáo mà là một kiểu minh triết về sự sống của con người trong dòng đời vô thường. Hoặc ta hoàn toàn có thể tự tin khẳng định rằng, Phật giáo là tôn giáo duy nhất trong tất cả các tôn giáo của hành tinh này thực sự đề cao trí tuệ của con người và sự tồn tại của con người trong cuộc đời này.

Nói như vậy để ta không phải ngộ nhận cho rằng Phật giáo là lánh đời, là bi quan, là ảo vọng. Triết học Thiền Tông hướng con người ý thức trọn vẹn nhất sự tồn tại của mình, thiên đường – cõi Niết Bàn không nằm ở đâu xa xôi, mà ngay trong lòng chúng ta, ngay tại thời khắc mà ta tồn tại. Mà chính Phật giáo Thiền Tông cho phép những người tu sĩ được quyền nhập thế, đề cao ý thức công dân của con người. Chúng ta sẽ điểm qua vài bài thơ của Thiền sư Mãn Giác và Trần Nhân Tông để hiểu rõ hơn về Phật giáo Thiền Tông và thơ thiền.

Thơ Thiền lời Lý – Trần và điểm khác biệt cơ bản của thơ Thiền trong 2 triều đại

Thơ Thiền thời Lý – Trần có điểm chung là thể hiện những suy nghiệm của các sư tăng về sự vận động của cuộc đời trong cảm quan tiến bộ: Coi thường những sân si tầm thường, những bon chen thế tục nhưng lại giàu giá trị hiện sinh, trân quý thời khắc sinh tồn hiện tại và đặc biệt đề cao ý thức công dân của con người.

Thời Lí: Thiền sư Mãn Giác từng viết:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
                                (Cáo thật thị chúng)

Dịch thơ:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai.
(Cáo bệnh, bảo mọi người
)

Xuân là biểu tượng của của sự bắt đầu, của niềm vui, niềm hạnh phúc viên mãn. Xuân  đi hoa rụng. Xuân đến hoa nở. Đó là quy luật vận động tuần hoàn của tạo hóa. Thế nhưng nhìn vào vòng quay bất tận ấy, con người chợt nhận ra: đời người có bao nhiều lần ngắm hoa tàn hoa nở. Trăng tàn rồi khuyết. Hoa rụng lại nở mùa sau nhưng mái tóc xanh trên đầu chàng trai 20, 30 năm sau đã đổi màu. Chúng ta sinh ra trên đời phải chấp nhận quy luật sinh – trụ – dị – diệt của tạo hóa. Đó chính là cái lẽ vô thường nghiệt ngã. Bản chất con người tầm thường, sẽ vui trước cái tươi, cái trẻ trung, cái lạc thú của cuộc đời ; sẽ lại buồn lo, đau khổ khi nghĩ đến tuổi già, sự mất mát và cái chết. Phật giáo Thiền Tông hướng con người đến sự an lạc tuyệt đối để tìm thấy niềm vui trong mọi thời khắc.

Khi chúng ta ý thức được lẽ biến thiên vô thường và an nhiên chấp nhận nó, được mất, sinh diệt vốn là chuyện không tránh khỏi… là ta sẽ tìm thấy mùa xuân bất tận, không phải mùa xuân của tạo hóa mà là mùa xuân, mùa an lạc trong tâm hồn. Kết thúc bài thơ không phải là nỗi sợ hãi của một con người tầm thường khi ý thức sự hữu hạn của đời người đặt trong vòng xoay vần bất tận của tạo hóa vô tình mà là nở một nụ cười điềm nhiên đầy trí tuệ. Nhành mai xuất hiện ở sân trước là biểu tượng của mùa xuân vĩnh hằng, mùa xuân bất tận trong tâm hồn của những con người giác ngộ. Thiên đường không nằm cao xa trên chín tầng mây huyền thoại mà nằm ngay trên cuộc sống này, chìa khóa mở cánh cửa thiên đường ấy chính là sự thức tỉnh của tâm hồn, một tâm hồn đầy trí tuệ, đất phật – Linh Sơn không ở đâu xa xôi mà ở ngay trong tâm chúng ta. Khai mở tâm hồn chính là sự giải thoát cao nhất mà không cần cạo đầu, thoát ly, tụng niệm. Cũng như sau này, Nguyễn Du đã từng đúc kết chân lí đó qua 4 câu thơ trong bài Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài:

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kì trung áo chỉ  đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ
Tài tri vô tự thị chân kinh
Ta đọc kinh Kim Cương hơn nghìn lần.

(Ý sâu phần nhiều không hiểu rõ.
Khi đến được đài đá phân kinh này,
Mới hay không chữ là chân Kinh.)

Nguyễn Du cũng đã từng ngụp lặn trong trong bể khổ trầm luân và bể chữ mênh mông của kinh điển Phật giáo. Ông đọc hơn ngàn lần kinh Kim Cương mà không lãnh hội được gì, không tìm đâu thấy sự an lạc tuyệt đối. Để rồi sau bao nhiêu trải nghiệm ông mới nhận ra: không chữ mới là chân kinh. Chân lí không nằm ở sự mê cuồng kinh sách chữ nghĩa mà phải hướng vào quá trình thực nghiệm đời sống. Có tụng niệm mãi cũng không đem lại lợi ích gì. Phật giáo Thiền Tông không hướng con người vào sự trông đợi phép màu giải thoát của một đấng siêu nhiên nào mà là hướng đến cuộc hành trình giải thoát trong tâm hồn bằng con đường trí tuệ.

Nó không phải là dạng cảm xúc bản năng đơn thuần của con người, mà là thứ tình cảm đã được trí tuệ và lí tưởng thẩm mĩ chuyển hóa, mà cụ thể ở đây là sự bình thản, lạc quan và niềm vui vô tận của nhà thiền sư có trí tuệ bát nhã. Phật giáo không hề bi quan, yếm thế như nhiều người ngộ nhận.

Đề cao ý thức công dân, trách nhiệm với cuộc đời

Chính vì đề cao ý nghĩa thực tại của cuộc sống này nên Phật giáo Thiền Tông cho phép kẻ hành đạo chọn con đường thế tục, đem lại lợi ích cho mọi người. Trong bài Thị tật, Quảng Nghiêm Thiền sư viết trước khi chấm dứt cuộc phù sinh:

Nam nhi tự hữu xung thiên chí
Hưu hướng Như Lai hành hướng hành

(Kẻ nam nhi phải tự mình có cái chí xông lên trời
Thôi đừng đi vào con đường mà Phật Như Lai đã đi)

Trong kinh điển Phật giáo Đại thừa, Đức Phật từng dạy rằng con đường tu tập của các tỳ kheo có đến tám vạn bốn ngìn cửa. Đức Phật Như Lai là cũng là một con người, trải qua quá trình thực nghiệm tâm linh tự tìm ra lối giải thoát làm gương cho người đời sau. Thế như không có nghĩa là ta máy móc làm đúng những gì người đã làm. Kẻ hành đạo phải tự tìm ra lối đi cho phù hợp với bản thân trong 84000 lối đi, kẻo sẽ tự sa vào con đương trầm luân không đi đến bến bờ giải thoát, tự chuốc lấy bi kịch, lỗi đạo con người. Sinh ra là kẻ làm trai, nhất là sống trong nền lễ giáo phong kiến Nho gia, ý thức trách nhiệm của đấng mày râu không thể tiêu biến mà thoát ly khỏi cuộc đời. Quảng Nghiêm thiền sư khuyên kẻ sĩ phải có ý thức lập thân và sáng suốt lựa chọn lối đi đúng đắn, không nên bắt chước Như Lai từ bỏ gia đình, từ bỏ địa vị để đi vào cõi thâm sơn tĩnh tâm để ngộ ra chân lí. Mà nhắc đến chí nam nhi là nhắc đến ý chí dấn thân, ý chí cứu đời, giúp đời.

Điểm khác biệt cơ bản giữa thơ thiền thời Lí và thơ thiền thời Trần

Trong khi thơ thiền đời lí nặng về tính triết lí, giáo huấn, ít xuất hiện hình tượng thiên nhiên; hình tượng thiên nhiên trong thơ chỉ là phương tiện minh họa cho tư tưởng… thì thiên nhiên trong thơ thiền thời Trần lại bộc lộ mối quan hệ thẩm mĩ giàu chất văn học đối với chủ thể: đẹp và vận động tinh tế.

Trong bài thơ Cáo tật thị chúng của thiền sư Mãn Giác ta thấy rõ các hình ảnh hoa, xuân chỉ là những biểu tượng có tính chất quy ước để khái quát quy luật đời sống. Bài thờ Nguyệt của Trần Nhân Tông lại hoàn toàn khác:

Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
Đầy sách giường khuya đèn lẫn trăng
Đêm thu sân vắng ảo sương giăng
Vẳng nghe , tỉnh giấc chày  ai đó
Hoa nở sắc khoe với chị Hằng
.

Khi viết bài thơ này, Trần Nhân Tông đã trao quyền lại cho con Trần Anh Tông và lùi về thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thế nhưng ông không hề quên đi việc triều chính. Kẻ đã xuất gia nhưng trên giường vẫn bộn bề những thư tịch, sách vở liên quan đến việc nước. Ánh trăng vô tình phát hiện và soi thấu nỗi lòng. Cảnh đẹp hư ảo, thi vị có trăng, có hoa trong không gian yên lặng tĩnh mịch. Rồi một tiếng chày bỗng làm cho khách thế tục giật mình. Tiếng chày là âm vang của cuộc sống lao động đời thường. Cả giấc ngủ say tưởng chừng như an lạc trong nền không gian thơ mộng được thêu dệt bằng trănghoa, tâm hồn con người ấy vẫn rất dễ xao động trước cuộc đời. Trăng hoa trở thành cặp hình ảnh đối trọng: một bên là trạng thái nhàn tĩnh, thi vị – một bên là tâm sự bộn bề kẻ đeo nặng trách nhiệm với cuộc đời (sách, tiếng chày). Trănghoa không phải là phương tiện xơ cứng minh họa cho tư tưởng mà là một thực thể tuyệt mĩ của tạo hóa, gợi ra vẻ đẹp say đắm của trời đất và tâm hồn thanh cao của con người trong sự tinh tế, tương giao cùng vũ trụ.

Qua hai bài thơ Thiền nói về chí nam nhi của Quảng Nghiêm thiền sư hay Nguyệt của Trần Nhân Tông ta lại phát hiện ra rằng: Văn học phật giáo – thơ thiền thời Lý – Trần một phần thể hiện nội dung yêu nước: luôn đề cao trách nhiệm của con người với đời. Có thể nói rằng thành tựu và vị trí của thơ Thiền thời Trần của Việt Nam có vị trí tương ứng như Đường Thi ở Trung Quốc. Nó vừa kết tinh vẻ đẹp tinh hoa của Phật giáo Việt Nam vừa tạo ra nét đặc thù rất riêng, mang đậm bản sắc dân tộc.

© 2013 TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.