Tóm tắt về nhân quyền (II)

Trích từ Một góc của tôi

Trong tất cả các quốc gia văn minh, nỗ lực được thực hiện để xác định và củng cố nhân quyền Cốt lõi của khái niệm này là như nhau ở khắp mọi nơi:  Nhân quyền là những quyền mà người ta có được đơn giản chỉ vì một họ là con người Nhân quyền là phổ quát và bình đẳng.

Xem Phần I: TÓM TẮT PHỔ QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

***

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MỸ

US-jeffersonMỹ đóng vai trò đặc biệt trong việc phát triển và ủng hộ các ý tưởng và thực tiễn về nhân quyền. Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 theo đó các thuộc địa Mỹ tuyên bố tách khỏi nước Anh, khẳng định rằng “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Quan trọng không kém, Tuyên ngôn Độc lập còn khẳng định quyền của người dân được phá bỏ những ràng buộc chính trị áp bức.

Với Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ, thế giới lần đầu tiên chứng kiến thử nghiệm trên thực tế việc xây dựng một chính phủ mà sự vận hành của nó được đánh giá dựa trên mức độ tôn trọng và bảo vệ các quyền của người dân. Do vậy, các quyền được người Mỹ coi là một đặc điểm trong di sản quốc gia của họ.  Những người Mỹ đầu tiên không nói đến “nhân quyền” mà nói đến tự do và các quyền tự do. Rất nhiều trong số những người dân thuộc địa đầu tiên đến Tân Thế giới để tìm kiếm quyền tự do tôn giáo của họ đã bị tước bỏ ở châu Âu thế kỷ XVII. Khi hình thành các cộng đồng, qua thời gian họ đã phát triển ý thức về sự khoan dung tôn giáo và mong muốn xây dựng chính quyền tự trị. Khi thời gian đã chín muồi để những người dân thuộc địa Mỹ tách khỏi nước Anh thì lúc đó họ đã xây dựng được luật và các tập quán công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do hành đạo và tự do lập hội. Quyền kiến nghị chính phủ, quyền có bồi thẩm đoàn và có tiếng nói trong việc quản lý những vấn đề của chính họ là những quyền khác mà họ đã nuôi dưỡng, ấp ủ.

Tât cả những quyền này là những giá trị trụ cột trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776, một đoạn sẽ được trích dưới đây. Tác giả chính của Tuyên ngôn Độc lập, Thomas Jefferson, sau này trở thành tổng thống thứ ba của nước Mỹ.

Sự thật hiển nhiên là mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền này, các chính phủ phải do dân bầu ra, quyền lực là quyền lực của nhân dân. Nếu chính phủ nào hủy hoại những mục tiêu này thì người dân có quyền thay đổi hoặc lật đổ chính phủ và hình thành nên chính phủ mới, dựa trên những nguyên tắc và tổ chức quyền lực theo hình thức mà người dân cho là chắc chắn sẽ đảm bảo được sự an toàn và hạnh phúc của họ.

Tuyên ngôn nhân quyền

Năm 1787, đại diện của 12 trong số 13 bang đầu tiên đã gặp nhau ở Philadelphia, bang Pennsylvania, để soạn thảo Hiến pháp Mỹ. Họ đã soạn thảo một văn kiện về nền dân chủ thỏa hiệp và đại diện, phù hợp với những thay đổi trong suốt hơn 200 năm.

Rất nhiều người lúc đầu phản đối Hiến pháp mới. Họ chỉ chấp thuận văn kiện này nếu một loạt điều bổ sung đảm bảo các quyền tự do dân sự – những quyền tự do đã được quy định trong hầu hết hiến pháp các nước – được thêm vào Hiến pháp. Do vậy, 10 điều bổ sung dưới đây, được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền, đã được đưa vào Hiến pháp năm 1791. Kể từ khi Tuyên ngôn Nhân quyền được đưa ra, Hiến pháp Mỹ chỉ có thêm 17 điều sửa đổi bổ sung nữa.

Điều bổ sung sửa đổi I – Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.

Điều bổ sung sửa đổi II – Xét thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị vi phạm. 

Điều bổ sung sửa đổi III – Không một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân trong bất cứ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo qui định của luật pháp.

Điều bổ sung sửa đổi IV – Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm. Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ. 

Điều bổ sung sửa đổi V – Không một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Bồi thẩm đoàn, trừ những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp hiểm nguy. Không một ai sẽ bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.

Điều bổ sung sửa đổi VI – Trong mọi trường hợp truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử một cách nhanh chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng của bang hoặc khu vực nơi tội trạng xảy ra, nơi đã được pháp luật chỉ định trước; bị cáo phải được thông báo về tính chất và lý do buộc tội, được đối chất với các nhân chứng chống lại mình, được quyền triệu tập những nhân chứng để biện minh và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.

Điều bổ sung sửa đổi VII – Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu giá trị tranh chấp quá 20 đôla, thì quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn sẽ được tôn trọng…*

Điều bổ sung sửa đổi VIII – Không đòi hỏi những khoản tiền bảo lãnh quá cao, không áp đặt những khoản tiền phạt quá mức và không áp dụng những hình phạt dã man và khác thường.

Điều bổ sung sửa đổi IX – Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.

Điều bổ sung sửa đổi thứ X – Những quyền lực không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị ngăn cấm đối với các bang, thì thuộc về các bang cụ thể hoặc nhân dân.

Các vấn đề về nhân quyền

Dĩ nhiên trong di sản Mỹ cũng có những mảng tối. Chế độ nô lệ được chấp nhận ở các bang miền Nam trong suốt 75 năm đầu tiên của nền Cộng hòa Mỹ. Tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, các khu công cộng và định kiến xã hội là những vấn đề nổi cộm trong suốt thế kỷ thứ hai. Người Mỹ bản địa bị buộc phải di chuyển về phía Tây.

Họ bị mất nhà cửa, đất đai và nhiều khi còn mất mạng. Phụ nữ không được quyền bầu cử, không được tham gia bồi thẩm đoàn, thậm chí không có quyền sở hữu tài sản trong vai trò người vợ. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của nền dân chủ Mỹ là các cơ chế tự điều chỉnh bầu cử và các tòa án đều có xu hướng sửa chữa những sai lầm của những thời kỳ trước. Riêng ý tưởng bình đẳng cũng đã giúp giải quyết các tệ nạn xã hội.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã ủng hộ một số chế độ quân sự độc tài tàn bạo thông qua hỗ trợ tài chính và quân sự miễn là họ ủng hộ các lợi ích kinh tế và địa chính trị của Mỹ. Gần đây sau sự kiện 11/9, Mỹ bị chỉ trích về việc đối xử với những kẻ bị tình nghi khủng bố và một số vụ lạm dụng tù nhân của quân đội Mỹ trong chiến tranh I-rắc. Ranh giới các quyền trong các trường hợp xung đột liên quan đến khủng bố – những kẻ rút cục chỉ cố gắng để phá hoại quyền của mọi người – vẫn đang được tranh luận ở các xã hội văn minh.

Một số nhóm bày tỏ quan ngại về hình phạt tử hình, sự hiện diện pháp lý đầy đủ trong các vụ án tử hình, cũng như số lượng nam giới là người thiểu số bị tù vì các tội hình sự. Đã có các tranh luận về việc những người bị kết án sau khi mãn hạn tù bị tước quyền công dân, và có cả các cuộc thảo luận về những nhóm sắc tộc thiểu số. Một lần nữa người ta lại nhận thấy sức mạnh của một ý tưởng – ví dụ ý tưởng về sự bình đẳng – tạo ra một cuộc tranh luận không ngừng. 

Những hành động tích cực

Mặc dù vậy, Mỹ cũng có nhiều thành tích về những hành động quốc tế tích cực nhân danh nhân quyền. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đấu tranh cho quyền tự quyết dân tộc và bảo vệ người thiểu số của cộng đồng quốc tế. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, Mỹ đổ nhiều công sức, tiền của để duy trì và tái thiết nền dân chủ ở châu Âu và xây dựng nền dân chủ ở Nhật Bản. Mỹ đi tiên phong trong quá trình phi thực dân hóa, trao trả độc lập cho Phi-líp-pin năm 1946. Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, Mỹ nổi lên là nước đi đầu trong các sáng iến đa phương về nhân đạo và nhân quyền ở Xô-ma-li, Su-đăng, Hai-i-ti, Bosnia và nhiều quốc gia khác.

Báo cáo Quốc hội

Theo luật, Bộ Ngoại giao Mỹ hàng năm phải trình lên Quốc hội một số báo cáo tổng hợp về tình hình nhân quyền như sau:

·  Báo cáo tình hình nhân quyền các nước đánh giá chi tiết tình hình nhân quyền ở các nước trên thế giới.

·  Ủng hộ Nhân quyền và Dân chủ mô tả những việc mà Chính phủ Mỹ đang làm để giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền nêu trong báo cáo tình hình nhân quyền các nước.

·  Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế đánh giá mức độ tự do hành đạo của người dân. 

·  Báo cáo về nạn Buôn người điều tra hình thức nô lệ thời hiện đại. Sau khi hoàn thiện, các báo cáo này được trình lên Quốc hội và đưa lên Internet phổ biến trên khắp thế giới.

Ở bên ngoài, việc Mỹ sẵn sàng hành động đơn phương và luôn cho mình là đúng đôi khi gây nên oán giận, ngay cả ở những nước chia sẻ những giá trị trụ cột trong các chính sách của Mỹ. Không khó để chỉ ra nơi mà những lý tưởng của Mỹ thất bại. Tuy nhiên, nước Mỹ ngày nay cũng như trong hai thế kỷ trước vẫn là nước lãnh đạo thế giới trong cuộc đấu tranh vì nhân quyền đang tiếp diễn. Mặc dù được chấp nhận rộng rãi, nhưng cuộc đấu tranh để thực hiện những ý tưởng đó vẫn đang diễn ra trên toàn cầu.

GIÁM SÁT QUỐC TẾ VÀ CƠ CHẾ THỰC THI

Ít nhất về mặt lý thuyết, các quốc gia ngày càng có trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế về tình hình nhân quyền của họ. Hơn 3/4 quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn các Công ước Quốc tế về Nhân quyền.

Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị đã thành lập một ủy ban giám sát gồm các chuyên gia độc lập – gọi là Ủy ban Nhân quyền.

Chức năng chính của Ủy ban này là xem xét các báo cáo định kỳ mà các nước trình lên. Các ủy ban tương tự cũng đã được thành lập thông qua các Công ước Nhân quyền Quốc tế về phân biệt chủng tộc, quyền của phụ nữ, chống tra tấn, quyền trẻ em cũng như các Công ước mới về quyền của người tàn tật và lao động di cư.

Động lực cải thiện tình hình nhân quyền

Giám sát và báo cáo không thể buộc các quốc gia thay đổi thực tiễn nhân quyền của họ. Tuy nhiên, còn có những động lực khác đối với những nước muốn cải thiện hoặc bảo vệ thành tích nhân quyền của họ. Trong quá trình chuẩn bị báo cáo, họ có thể phát hiện ra những lĩnh vực cần phải được cải thiện. Điều này có thể là một nhắc nhở đối với các quan chức về nghĩa vụ pháp lý quốc tế của họ.

Ủy ban Nhân quyền châu Âu thuộc Hội đồng châu Âu có một hệ thống khiếu nại rất mạnh. Ủy ban này sau đó chuyển thành Tòa án Nhân quyền châu Âu đã đưa ra những quyết định ràng buộc về pháp lý trong hàng trăm vụ kiện liên quan đến hàng loạt vấn đề, trong đó có những vấn đề nhạy cảm như tình trạng khẩn cấp. Trong hệ thống châu Âu, các quốc gia đã trao một phần thẩm quyền thực thi nhân quyền cho một cộng đồng chính trị khu vực lớn hơn.

Trong lĩnh vực này các tổ chức khu vực ở châu Mỹ và châu Phi không mấy thành công. Thế giới A-rập và châu Á vẫn chưa có các ủy ban nhân quyền khu vực, mặc dù Diễn đàn châu Á Thái Bình Dương được thành lập năm 1996 với sứ mệnh ủng hộ nỗ lực hợp tác khu vực để “thành lập và phát triển các thể chế quốc gia nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong khu vực”. Cũng đã có kế hoạch thành lập Ủy ban Nhân quyền ASEAN mới và một Tòa án Nhân quyền châu Phi mới. Sức mạnh và phạm vi áp dụng các biện pháp giám sát quốc tế phụ thuộc vào việc các nước sẵn sàng sử dụng và tham gia thực hiện các biện pháp đó. Tình trạng này vẫn là một vấn đề nghiêm trọng và dai dẳng.

Báo cáo điều tra và ủng hộ

Một loại hình cơ chế giám sát nhân quyền đa phương khác là báo cáo điều tra và ủng hộ. Đi tiên phong trong lĩnh vực này là Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ. Những báo cáo về Chi-lê của tổ chức này trong những năm 1970 và 1980 là một nhân tố quan trọng trong việc phơi bày những vụ vi phạm nhân quyền của chính phủ Pinochet. Báo cáo của tổ chức này về Nicaragua năm 1978 đã đóng góp quan trọng đưa chính phủ Somoza đến hồi kết.

Trong hai thập kỷ qua, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã nỗ lực đáng kể trong việc nghiên cứu tình hình các nước, trong đó có những nước tình hình chính trị đáng quan tâm như Guatemala, I-ran và My-an-ma. Cụ thể, ủy ban đã hoạt động thông qua “báo cáo viên đặc biệt” – một chuyên gia độc lập kiêm điều tra viên. “Báo cáo viên đặc biệt” này bên cạnh nhiệm vụ việc báo cáo chính thức cho ủy ban còn cố gắng duy trì đối thoại liên tục với các chính phủ đang bị điều tra nhằm duy trì sự hiện diện lâu dài và thiết lập một kênh ảnh hưởng. Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng cử ra các báo cáo viên hoặc thành lập các nhóm làm việc để điều tra các vụ mất tích, giết hại và giam giữ tuỳ tiện, không khoan dung tôn giáo, các vụ vi phạm nhân quyền vì toan tính vụ lợi và phân biệt chủng tộc.

Năm 2006, Ủy ban Nhân quyền đã bị giải tán để thành lập một Hội đồng Nhân quyền nhỏ hơn. Hội đồng Nhân quyền mới này có sự khởi đầu đầy khó khăn. Hội đồng bị chỉ trích vì bỏ các báo cáo viên đặc biệt ở các nước như Belarus và Cuba mà không có lý do rõ ràng. Hơn nữa, Hội đồng còn duy trì tình trạng phân biệt đối xử khi xây dựng chương trình nghị sự lâu dài cho riêng một nước, đó là Israel liên quan tới tình hình Palestin. Cơ chế nhân quyền mới ở Geneva cũng khiến vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong các phiên họp chính thức của Hội đồng bị suy giảm và tiếp tục loại Israel ra khỏi bất cứ nhóm khu vực nào hoạt động ở Geneva. Cũng có hy vọng rằng cái gọi là “đánh giá định kỳ tình hình toàn cầu” có thể là một động lực để các thành viên Hội đồng để cải thiện thực tiễn nhân quyền của họ. Rõ ràng là uy tín đạo lý của mỗi cơ chế nhân quyền phần lớn phải phụ thuộc vào sự công bằng của nó.

CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC QUỐC GIA: NHỮNG VAI TRÒ ĐỐI LẬP NHAU

Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ cũng rất quan trọng đối với nền chính trị nhân quyền quốc tế. Các tổ chức Ân xá Quốc tế, Americas Watch, Liên minh các quyền Tự do Dân sự Mỹ và một số tổ chức khác đóng vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận về chính sách Trung Mỹ những năm 1980. Ở cả Bắc Mỹ và châu Âu, các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò lớn trong các cuộc tranh luận quốc gia về lệnh cấm vận đối với Nam Phi trong những năm 1980.

Các tổ chức phi chính phủ – với tư cách tư nhân – có thể hoạt động mà không chịu sự kiểm soát chính trị của chính phủ. Hơn nữa, do không có những tham vọng chính trị lớn có thể xung đột với các mục tiêu nhân quyền nên các tổ chức phi chính phủ thường ở vị trí thuận lợi hơn khi nêu ra những quan ngại về nhân quyền. Do tính chất phi đảng phái và hoạt động có tiêu điểm, nên đôi khi các tổ chức phi chính phủ có thể nêu lên những vấn đề nhân quyền trong phạm vi một quốc gia mà các tổ chức khác không làm được, điển hình ở những quốc gia mà hoạt động chính trị độc lập bị đàn áp và xã hội dân sự yếu.

Những điểm mạnh và yếu

Tuy nhiên, sức mạnh của các tổ chức phi chính phủ có giới hạn. Họ phải dựa vào sức mạnh của việc công khai các vụ vi phạm và tính thuyết phục. Rất nhiều quốc gia đã sử dụng quyền hạn để ép thành viên các nhóm nhân quyền địa phương thành những nạn nhân mới. Một số quốc gia cấm tài trợ bên ngoài cho các tổ chức phi chính phủ, hoặc đặt ra những quy định đăng ký hoạt động phiền phức nhằm cản trở công việc của họ. 

Các quốc gia có chủ quyền có hầu hết những điểm mạnh và điểm yếu giống các tổ chức phi chính phủ. Các quốc gia phải điều hòa nhiều lợi ích khác nhau trong chính sách đối ngoại của họ. Các chính phủ có xu hướng xây dựng chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia của họ, và điều này có nghĩa là việc ủng hộ nhân quyền có thể bị hạn chế để ưu tiên cho các mục tiêu khác.Tuy nhiên, khi các quốc gia quyết định theo đuổi các mục tiêu nhân quyền, họ sẽ sở hữu các nguồn lực, các kênh ảnh hưởng lớn và cả khả năng công khai mà các tổ chức phi chính phủ không có.

NHỮNG PHÁT TRIỂN GẦN ĐÂY VỀ NHÂN QUYỀN

Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở Viên năm 1993 giúp thu hút lại sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề nhân quyền trên thế giới thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Việc Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập các tòa án xét xử tội phạm chiến tranh ở Nam Tư cũ và Ru-an-đa năm 1993 và 1994 dẫn tới sự hình thành Luật về xung đột vũ trang và Luật nhân đạo quốc tế nhằm bảo vệ dân thường và những người không tham chiến trong các cuộc nội chiến này. Các tòa án đặc biệt cũng thành lập ở Sierra Leone năm 2002 và Căm-pu-chia năm 2003 để truy tố các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự vì những hành vi tàn bạo trong thời kỳ chiến tranh và diệt chủng. Mặc dù Mỹ không tham gia Hiệp ước Rome và tỏ ra e dè về phạm vi điều chỉnh của Hiệp ước, nhưng Tòa án Hình sự Quốc tế đã được thành lập năm 1998 theo Hiệp ước này và được Hội đồng Bảo an ủy nhiệm truy tố các vụ vi phạm nhân quyền trong cuộc xung đột Darfur, Su-đăng.

Hội nghị Phụ nữ Thế giới lần thứ 4 của Liên Hợp Quốc tại Bắc Kinh năm 1995 đã cố gắng đưa các vấn đề của phụ nữ vào nội dung chính của các cuộc thảo luận về nhân quyền quốc tế. Ngân hàng Thế giới với việc nhấn mạnh “quản lý hiệu quả” đã nêu bật những vấn đề nhân quyền quan trọng.

Ủy ban châu Âu và Liên minh châu Âu nhấn mạnh quốc gia nào muốn gia nhập các cơ cấu chính trị của châu Âu đều phải có chính sách bảo vệ nhân quyền. Năm 2002, Mỹ đã thành lập Quỹ đối phó với các Thách thức Thiên niên kỷ nhằm hỗ trợ kinh tế cho các nước quản lý đất nước một cách dân chủ, đầu tư cho người dân và khuyến khích tự do kinh tế.

Công khai hóa các vụ vi phạm

Một phát triển tích cực khác nữa là cộng đồng quốc tế ngày càng tập trung lên án những kẻ vi phạm nhân quyền. Các tổ chức ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu đã tạo áp lực lớn khiến các quốc gia không thể không có trách nhiệm công khai về thực tiễn nhân quyền của họ.

Chúng ta không nên đánh giá thấp giá trị của việc công khai các vụ vi phạm khiến các quốc gia phải thấy hổ thẹn mà có những hành vi tốt hơn. Ngay cả những chính phủ hà khắc cũng quan tâm đến uy tín quốc tế của họ.   

Ví dụ, cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, chính quyền quân sự Argentina đã có những nỗ lực ngoại giao đáng kể nhằm ngăn chặn các cuộc điều tra của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc. 

Hơn nữa, việc công khai các vụ vi phạm ít nhất cũng giúp được một vài trong số rất nhiều nạn nhân nổi bật bị đàn áp giành lại được một mức độ tự do nào đó, thậm chí đôi khi còn tránh được hình phạt. Internet tạo điều kiện dễ dàng hơn để các nhóm nhân quyền liên kết với nhau và công khai hóa các vụ vi phạm nhân quyền.

Những kỳ vọng và các chuẩn mực quốc gia và quốc tế đang được thay đổi theo hướng tốt hơn. Trong thế giới ngày nay, ý tưởng nhân quyền có sức mạnh đạo lý và khả năng huy động khó có thể kháng cự được. Và khi ngày càng nhiều người dân trên thế giới ý thức được bản thân họ có những quyền bất khả xâm phạm, thì đòi hỏi về nhân quyền khiến những kẻ độc tài phải trốn chạy, còn chính phủ của họ sẽ tan thành mây khói.

Về ngắn hạn, thanh gươm có thể mạnh hơn lời nói. Nhưng nhiệm vụ của những người ủng hộ nhân quyền – dù ở bất cứ đâu – là một nhiệm vụ lâu dài và cao cả, đó là nói lên sự thật. Và một trong những bài học tâm huyết nhất trong lịch sử hiện đại của chúng ta là sự thật sẽ chiến thắng.

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.