Vài nhận định sai lầm của Karl Marx về quan điểm của Adam Smith (I)

Karl Graf Ballestrem
Đ
ỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước

Li người dch: Karl Marx là mt nhà nghiên cu về lch s tư tưởng kinh tế. Dù uyên bác và làm vic nghiêm túc nhưng ông không tránh khi sai lm. C th là khi viết Tư Bản Lun, Marx không đ cp đến thành tích đóng góp của phong trào Khai Sáng Tô Cách Lan trong tiến trình thay đổi suy luận kinh tế ca châu Âu. Marx lit kê Adam Smith và David Ricardo vào chung mt hc phái, mà cả hai sng vào hai thời điểm và có ni dung kho hướng khác nhau. Marx còn hiu lm Smith là hc trò ca Ferguson. Nhưng quan trng nht là Marx có hai phê phán sai lạc về quan điểm ca Smith.

Thứ nhất, Marx đã quy kết Smith là “đại biểu khoa học của gia cấp tư sản“. Là một giáo sư Đạo Đức học, Smith không hề đảm nhận vai trò này trong thực tế. Lý thuyết của Smith qua tác phm “S Thnh Vượng Cu Đất Nước” đào sâu hiện tượng xã hội trong bối cảnh “lịch sử tự nhiên của xã hội dân sự”. Smith luôn biện hộ cho một chính sách kinh tế có thể tác động đến tăng lương công nhân và hạ giá bán sản phẩm. Smith không hề bảo vệ quyền lợi của người giàu và quyền thế, mà ông còn công khai phê phán thái độ đàn áp công chúng giới lãnh đạo thủ cựu và lừa bịp của giới tư sản. Do đó, quy kết của Marx không dựa theo quan điểm xã hội của Smith.

Thứ hai, Marx xem lý thuyết giá trị và phân phối của Smith sai lầm, vì Smith không hiu chức năng của tiền tệ trong phân công lao động và trao đổi hàng hoá và Smith cũng không nắm bắt được quyền lực lao đng trong tiến trình sản xuất. Do không khám phá nguồn gốc tư bản thống trị xã hội, nên Smith không lý giải được tại sao của cải xã hội gia tăng mà có phân phối bất công.

Thực ra, Smith lập luận chiếm hữu trong xã hội dân sự có chức năng lao động của con người, nhưng cũng là thành quả của sử dụng bạo lực và lưà đảo. Phân phối hoặc chiếm hữu giá trị không phải luôn luôn là nguồn gốc của giá trị và luật giá trị không tạo nên xã hội tư sản. Smith không giới hạn phân phối của cải xã hội chỉ có trong ba giai cấp điền chủ, s hữu chủ tư bản và lao động. Khi giải thích doanh lợi chỉ là do giá bán cao hơn giá trị hoặc là do lừa đảo quyết định, ý tưởng này là sai lầm, vì Smith cho là còn có nhiều yếu tố khác tác động. Smith giải thích doanh lợi là phần trích xuất từ giá trị sản xuất. Khi mọi người không vi phạm luật công bình thì họ có hoàn toàn tự do để theo đuổi quyền lợi riêng và có quyền mang tư bản vào đầu tư kinh tế để cạnh tranh với người khác theo cách của mình. Doanh lợi và điạ tô không những chỉ có chức năng tiền lương mà còn có chức năng giá cả. Do đó, Smith biện minh “hệ thống tự do tự nhiên” dựa trên lập luận hữu dụng nhằm phục vụ quyền lợi tốt đẹp nhất cho đại đa số quần chúng. 

Dù có nhận định sai lầm về Smith nhưng Tư Bản Luận của Marx vẫn còn có những giá trị giới hạn nhất định.

Nguyên tác Anh ngữ của bản dịch là “Karl Marx and Adam Smith: Critical Remarks About The Critique Of Political Economy” đăng trong: Contemporary Marxism, James J. O´Rourke et al.(eds.), 1984, D. Reidel Publishing Company, 21-38. Karl Graf Ballestrem (1937-2007), là Giáo sư Triết học và Chính trị học tại các Đại học Chicago, Notre-Dame (Hoa Kỳ), München và Eichstätt-Ingolstadt (Đức).

Người dịch đặt tựa đề cho bản dịch và đưa chung các trích dẫn kinh điển và chú giải cuả tác giả vào cuối bản dịch

* * *

Marxism-1Nếu luận về phương pháp để so sánh giữa hai tác phẩm “Sự Thịnh Vượng Cuả Đất Nước” của Adam Smith và “Tư Bản Luận” của Karl Marx thì chúng ta sẽ thấy có sự dị biệt quan trọng và rõ rệt: Trong khi Smith cố gắng tổng quát hoá những kinh nghiệm (mà ông tìm ra qua tư liệu lịch sử, thống kê và đàm luận với thương giới ở thành phố Glasgow) và kiểm chứng lại những phương cách này để lý giải với một tầm vóc rộng hơn về những hiện tượng được chứng nghiệm (theo quy luật khoa học của Newton), thì Marx qua tiểu tựa đã cho thấy Tư Bản Luận là bàn về „Phê Phán Về Kinh tế Chính Trị Học“. Tư Bản Luận khởi đầu với suy đoán lý thuyết của những nhà kinh tế tư sản để chứng minh những phạm trù và quy luật vừa lộ vừa ẩn và đều không có khả năng giải thích được thực trạng của hệ thống kinh tế tư bản. Đối với Smith, việc tham khảo tài liệu kinh tế cổ điển và hiện đại giúp cho ông soi sáng thêm quan điểm, nhưng ông không cần đến các thuyết trọng thương và trọng nông để lý giải cho luận thuyết của mình. Đúng hơn về sau (đặc biệt là trong quyển IV của „Sự Thịnh Vượng Cuả Đất Nước”), ông thảo luận về các lý thuyết, nhưng chỉ để nhằm soi sáng ưu thế trong hệ thống lý thuyết. Ngược lại, Marx nghiên cứu cẩn trọng về các sách vở kinh tế trên 200 năm qua để khám phá về „Phân Tích Về Xã Hội Tư Sản“ và giới thiệu như một tiền đề trong lý thuyết phê phán (ngay từ đầu quyển I Tư Bản Luận) mà ông coi là những phạm trù và nguyên tắc cơ bản của “Kinh Tế Chính Trị Học Cổ Điển”.    

Khi chúng ta lưu tâm đến tầm quan trọng của khoa học kinh tế chính trị cổ điển để tìm hiểu Marx về phê phán xã hội tư sản, một vấn đề có liên quan đặc biệt là liệu Marx có quan tâm đến James Steuart hay Adam Smith hoặc David Ricardo không hoặc là Marx có chú ý lý giải trung thực về các lý thuyết của họ không hoặc Marx có sử dụng chọn lọc các công trình này để đúc kết xem các lý thuyết này có cục bộ và tự mâu thuẫn hay không. Dù thế, vấn đề này không đáng được quan tâm. Trong số những học giả Mác xít, lý thuyết của các nhà kinh tế tư sản thường được trình bày theo quan điểm phê phán thiên về Marx và trích lời của Marx.[i] Đối với các sử gia về tư tưởng kinh tế không theo Mác xít, thì Marx thực ra là kinh tế gia, nhưng không phải là nhà phê phán về lý thuyết kinh tế.[ii]

Những nhà nghiên cứu khoa học về Marx là những người hiểu phương pháp lý thuyết phê phán của Marx nhưng không có khuynh hướng hoặc thẩm quyền để lập luận chống lại lý giải kinh điển của Marx về kinh tế tư sản. [iii]

Marxism-2Dĩ nhiên, tiểu luận này không cố ý thách thức đến toàn bộ công trình phê phán về kinh tế chính trị học của Marx. Điều tôi muốn minh chứng là so sánh những gì Marx nói về những lý thuyết kinh tế tư sản với nghiên cứu lý thuyết được trình bày nghiêm túc trong toàn cảnh lịch sử và hệ thống. [iv] Bởi vì Marx coi Smith và Ricardo là những nhà lập thuyết cho trường phái kinh tế cổ điển loại thượng hạng, thí dụ này là một dẫn chứng quan trọng. Nhưng khi tôi muốn minh chứng quan điểm của Marx đối với Smith là phiến diện và không thuộc về lịch sử, tôi không suy đoán rằng quan điểm của Marx cũng đúng cho Ricardo và những người khác. Cho dù trường hợp này có đúng đi nữa, tôi cũng không suy luận là kết luận của Marx về hệ thống kinh tế tư bản là sai.  

Dù tôi tự đặt giới hạn cho đề tài, tuy nhiên, mối quan hệ về loại phê phán mà tôi đề xuất  rất minh bạch. Để có thể minh chứng Marx hiểu sai về Smith hay Ricardo là có một trọng lượng phê phán khác biệt, tôi có so với dẫn chứng khác, thí dụ như Smith hiểu sai về thuyết trọng nông. Điều này có thể nhận xét qua thí dụ sau đây. Chúng ta hãy suy đoán về các sách vở kinh điển của tư sản là không bao giờ nói đến lao động và trao đổi các mặt hàng tương đương như phương thức tiêu biểu của chiếm hữu và phân phối trong “những xã hội dân sự”. Ngay từ khởi đầu của Tư Bản Luận điểm chính khi phân tích giá trị và trao đổi là chứng minh lao động và trao đổi hàng hoá tương đương như biểu hiện tất yếu về những nguyên tắc đặc trưng của chiếm hữu và phân phối của xã hội tư bản (như là một hình thức chống lại xã hội phong kiến). Và chỉ có khi thay đổi cách nhìn từ trên bình diện này (phạm vi trao đổi) đến chiều sâu thuộc cấu trúc (phạm vi sản xuất tư bản) thì người ta mới hiểu được bản chất của thặng dư và doanh lợi.

Tuy nhiên, Marx không chứng minh được cho suy đoán của mình là xã hội tư sản thể hiện tất yếu theo chiều hướng này cho các thành viên. Bằng chứng duy nhất của Marx là „kinh điển của kinh tế chính trị học“ đã có nói như thế. Đó chính là lý do tại sao Marx lý giải về thặng dư và doanh lợi có hình thức phê phán của kinh tế chính trị học. Ngày nay, nếu “kinh điển” có nghĩa là một cái gì đó hoàn toàn khác, thì lý giải của Marx về thặng dư và doanh lợi vẫn có thể còn đúng, nhưng hình thức đặc biệt trong lập luận của Marx không còn thuyết phục. 

Tiểu luận này chia làm hai phần. Phần thứ nhất thảo luận về điểm Marx đã hiểu đại cương về lý thuyết xã hội của Smith như thế nào. Phần thứ hai bàn đến vấn đề Marx có thừa nhận lý thuyết giá trị và phân phối của Smith là có đúng không. 

Lý thuyết xã hội của Adam Smith

Trước hết, đối với các sử gia đương đại, Adam Smith là một trong các nhân vật chủ yếu của „Phong Trào Khai Sáng Tô Cách Lan“.[v] Cùng với bạn là David Hume, ông thuộc về nhóm học giả kiệt xuất mà qua những công trình này chúng ta có thể nhận ra sự thay đổi tư tưởng của con nguời và xã hội từ khoa học quy phạm cổ truyền đến khoa học xã hội hiện đại. Khởi đầu của thời kỳ chuyển hoá này ta có thể tìm thấy qua tác phẩm Treaties of Human Nature (1739/1740) của Hume, đặc biệt là trong quyển III Of Morals. Tác phẩm này giải thích và phê phán về kết ước xã hội theo thuyết tự nhiên. Việc giải thích này trở nên hiển nhiên hơn trong tác phẩm Theory of Moral Sentiments (1759) của Smith mà Smith xem các vấn đề đạo đức học như là một đối tượng thuộc về khoa tâm lý xã hội.

Adam Smith-1Essay on the History of Civil Society (1767) của Adam Ferguson và Origin of the Distinction of Ranks (177 của John Millars là những tác phẩm tiêu biểu tiên khởi cho những nghiên cứu về khoa học xã hội thực nghiệm và được xem như là công trình tiên phong của xã hội học hiện đại. Inquiry into the Nature and Cause of the Wealth of Nations của Adam Smith là tác phẩm về kinh tế chính trị đầu tiên theo khoa học xã hội thực nghiệm.

Dù có loại trừ David Hume một phần nào thì một đặc điểm chung của các tác giả này là họ nỗ lực giải thích hiện tượng xã hội trong bối cảnh lịch sử, nói một cách chính xác hơn, trong khuôn khổ của “lịch sử tự nhiên của xã hội dân sự”. Các sử gia về lý thuyết nêu rõ điểm tương đồng trong khảo hướng về „lịch sử tự nhiên“ của trào lưu khai sáng Tô Cách Lan và „khái niệm biện chứng lịch sử“ của Marx. Thứ nhất, điểm tương đồng có thể tìm thấy quy luật này trong khái niệm về con người như một tác nhân tích cực nhằm thoả mản nhu cầu ngày càng tăng qua lao động. Thứ hai, các tác giả Tô Cách Lan suy đoán là các xã hội có khuynh hướng phát triển qua những giai đoạn lịch sử nhất định, thể hiện qua các đặc tính sản xuất và chiếm hữu khác nhau (thí dụ như giới săn bắn, nuôi cưù, nông gia và thương nhân). Thứ ba, họ cố lý giải các thể chế xã hội và chính trị bằng cách quy chiếu với những phương thức sản xuất và sở hữu. Sử gia William Roberton, người bạn của Adam Smith, diễn đạt nguyên tắc này qua hình thức như sau: “Trong bất cứ một cuộc khảo sát nào về hoạt động của con người khi hợp quần vào xã hội, thì mục tiêu đầu tiên cấn phải chú ý là phương thức sinh tồn. Khi phương thức này thay đổi thì các quy luật và chính sách phải thay đổi theo.” [vi]

Đối với các tác giả Tô Cách Lan, lịch sử không luôn được xem là thăng tiến vì sự tiến bộ trong lĩnh vực này phải trả bằng một giá là tai ách hay xung đột trong lĩnh vực khác. Chính vì thế mà đi theo sau chiếm hữu đất đai tư nhân, phát triển phân công lao động và du nhập thương mại và kỹ nghệ chế biến là gia tăng năng suất nhưng cùng song hành với nó là nỗi khốn khó ngày càng nhiều của nhân dân lao động, xung đột xã hội và suy đồi đạo đức công cộng. Trong khi Ferguson không tìm ra giải pháp cho tính biện chứng của tiến bộ và suy thoái này, nên ông hoàn toàn bi quan trong nhận định những xã hội hiện đại. Smith và Millar tin rằng họ khám phá khuynh hướng lịch sử nhằm làm gỉảm mối quan hệ của thống trị và tăng tự do cá nhân. „Hệ thống tự do theo tự nhiên“ của Smith là một phương thức xã hội tương lai mà các lực lượng của thị trường có khuynh hướng làm tăng lương và hạ giá bán, nhờ thế mà thực hiện được quyền lợi của đại đa số dân chúng.

Marx có khả năng giải thích Smith trong bối cảnh tư tưởng của Tô Cách Lan vào thế kỷ XVIII. Marx không những đọc Wealth of Nations của Smith và Essay của Hume mà còn Essay on the History of Civil Society của Ferguson và Origin of the Distinction of Ranks của Millar. [vii] Marx nhận xét Smith là học trò của Ferguson, dù đây là một điều sai, nhưng cũng chúng tỏ Marx biết được những mối quan hệ cá nhân của nhóm này. [viii] Tuy nhiên khi đọc Marx không ai có cảm tưởng rằng Smith là người thuộc phong trào khai sáng Tô Cách Lan. Smith được luôn đề cập chung với Ricardo, dù về phương diện lịch sử, người ta không thể kỳ vọng có điểm tương đồng giữa một vị giáo sư Đạo đức học ở Glasgow với nhà đầu tư chứng khoán tại Luân Đôn, người mà nửa thế kỷ sau có sáng tác, nhưng trong một môi trường lý thuyết và xã hội khác biệt.

Nếu Marx là một sử gia về tư tưởng kinh tế, ta không thể chờ đợi Marx nghiên cứu về luận cương trong lý thuyết xã hội của Smith và bối cảnh lịch sử của trào lưu khai sáng Tô Cách Lan. Tuy nhiên, Marx coi những lý thuyết kinh tế tư sản là những ý thức hệ, một hệ thống tư tưởng có thể trình bày triển vọng và quan tâm của giai cấp tư sản trong một bối cảnh lịch sử và xã hội đặc biệt. Để minh chứng trong trường hợp của Smith, Marx không những chỉ giải thích quan điểm về doanh lợi và tiền lương trong một cách đặc biệt (mà tôi sẽ trình bày trong phần sau) mà còn có những ghi nhận thuộc về lĩnh vực nhân chủng học cá nhân chủ nghiã, đặc điểm không thuộc về lịch sử trong lý thuyết của Smith và trong chức năng của Smith là người phát ngôn cho giới tư sản vào cuối thế kỷ XVIII. Tôi xin cố chứng minh là Marx giải thích sai lầm khá vụng về về lý thuyết xã hội của Smith.    

Ngay từ đầu tác phẩm Grundrisse Marx khẳng định là Smith và Ricardo quan niệm về xã hội không thuộc về lịch sử và là cá nhân. Theo Marx, cả hai suy đoán lầm lẫn về cá nhân hiện đại là con người tự nhiên, kết quả của một phát triển lịch sử lâu dài. Khi Smith và Ricardo viết về “những người đi săn và đánh cá cô lập và cá nhân”, cả hai theo một thí dụ của những nhà tiên tri thế kỷ XVIII mà trong trí tưởng tượng về mỗi cá nhân này trong thế kỷ XVIII – một phần là do sản phẩm dựa vào sự giải thể của những hình thái phong kiến của xã hội, một phần khác là do những lực lượng sản xuất mới được triển khai từ thế kỷ XVI -. Sản phẩm này thể hiện một lý tưởng mà sinh hoạt của nó theo họ phản ảnh được quá khứ. Đó không phải là một thành quả mà là một khởi điểm lịch sử. Theo khái niệm bản chất của con người, khi cá nhân thích ứng, đó là do tự nhiên, mà không do trổi dậy theo dòng lịch sử. Sai lầm này khá phổ biến cho từng giai đoạn cho đến ngày nay. [ix]

Không giống như các sử gia về tư tưởng hiện đại, Marx không giải thích Smith như là một đại biểu hàng đầu của khảo hướng “lịch sử tự nhiên”. Trong khung cảnh phê phán của Marx, Smith xuất hiện như là một nhà kinh tế tư sản. Marx cũng suy đoán về đặc trưng của tư tưởng kinh tế tư sản để hình dung phương thức sản xuất cuả những xã hội dân sự hiện đại và „xem thiên nhiên là quy định bất biến cho mỗi tình trạng xã hội“.[x] Marx có viết trong The Poverty of Philosophy như sau: “Theo những nhà kinh tế đại diện cho những mối quan hệ tư sản trong sản xuất thì phân công lao động, tín dụng, tiền tệ là những phạm trù cố định, bất biến và vĩnh cữu… . Họ giải thích cho chúng ta biết là người ta sản xuất được trong những tình trạng sẳn có như thế nào. Điều mà họ không giải thích được là những điều kiện này tự nó được tạo lập ra sao, thí dụ như chuyển động lịch sử nào đã đem những điều kiện này thành hình”.[xi] Trong “kinh điển về kinh tế chính trị học” thì James Steuart là người duy nhất không bị cáo buộc: “Steuart tránh được quan điểm hẹp hòi này vì ông là nhà qúy tộc và trong tinh thần phản luận của thế kỷ XVIII ông đã tôn trọng những cơ sở lịch sử”.[xii] Khi Smith và Ricardo thảng hoặc có chú ý đến lịch sử, họ chỉ muốn chứng tỏ tính ưu thế của thời hiện tại tư sản so với quá khứ phong kiến. Theo Marx, điểm này là “nhiệm vụ của họ” vì họ là “đại biểu khoa học cho giai cấp tư sản”.[xiii]

Marx không nỗ lực chứng minh về đặc điểm ý thức hệ của lý thuyết Smith từ trong văn bản. Đúng hơn, Smith bị phê phán tổng quát là có tư tưởng kinh tế tư sản và không liên hệ đến lịch sử và chỉ biện luận. Tuy thế cần phân biệt lời cáo giác. Không giống như các nhà biện hộ hậu trào, Smith và Ricardo được coi là những “nhà kinh tế kinh điển” bởi vì họ có vị thế mạnh khi diễn tả công khai mối quan hệ sản xuất trong hình thái thuần tuý của nó”.[xiv] Sáng tác trong thời kỳ mà đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản chưa thể hiện, họ nêu lên vấn đề khá rõ rệt của hệ thống tư bản, ngay cả khi mà những suy đoán lý thuyết của họ không tạo ra nhiều khó khăn[xv]. Họ không phủ nhận sự cực kỳ túng quẩn của giới sản xuất ra của cải trong xã hội tư sản và chấp nhận là một phó sản của một hệ thống thăng tiến như định mệnh an bài. “Theo nhãn quan của họ, sự khốn khổ chỉ là đau thương có từ thuở lọt lòng, do thuộc bản chất hay do nền kinh tế kỹ nghệ“.[xvi]   

Điều đáng suy gẫm về phê phán của Marx là Marx đáng lý phải biết rằng Smith không chia sẽ về những ảo tưởng của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội tư sản là do bản chất định sẳn bất biến, mà Smith là một trong số những người đầu tiên lý giải (trong quyển III Sự Thịnh Vượng Của Đất Nước) việc cá nhân hiện đại trổi dậy là để thoát ra khỏi mối quan hệ phong kiến và họ là một lực lượng sản xuất mới được phát triển từ cuối thời Trung Cổ. Marx cũng phải biết đó không phải là “những người đi săn và đánh cá riêng rẽ và biệt lập” mà là những người mà Smith và Ricardo khởi đầu giới thiệu. [xvii] „Sự Thịnh Vượng Của Đất Nuớc“ khởi đầu với sự phân tích về phân công lao động hiện đại và nhận xét đối chiếu “về đất nước hoang sơ có nhiều người đi săn và đánh cá” ít nhất không cho thấy Smith nghĩ đến các cá nhân biệt lập. Khi ông dẫn chứng về hai người đi săn trao đổi hai chiến lợi phẩm trong “một tình trạng sơ khai và thô thiển của xã hội và đi trước tích lũy của cải và chiếm hữu đất đai”[xviii], ông không hề đề xuất là hình thức lao động, chiếm hữu và trao đổi có trong thời hiện đại là cũng đã có trong những xã hội sơ khai. Trái lại, thí dụ này nhằm nhấn mạnh sự khác biệt giữa trao đổi trong xã hội tư sản (là nơi mà luôn có sự khác biệt giữa công nhân và chù nhân) và trong xã hội sơ khai (là nơi mà người ta chỉ sản xuất cho riêng mình và ít khi mới có trao đổi sản phẩm).

Khẳng định của Marx là Smith và Ricardo có những thái độ chấp nhận định mệnh và biện hộ về sự khốn cùng của giới lao động là không có cơ sở trong các công trình của Smith. Dù khảo hướng về lịch sử tự nhiên ít có tính quy phạm hơn là các học thuyết luật tư nhiên truyền thống, Smith bị phê phán thuộc về xã hội mà “người ta lo quần áo cho cả thế gian trong khi chỉ mang trên mình tấm giẻ rách”[xix], và không đem lại nghi ngờ khi những chính sách nhằm giới hạn cơ hội của công nhân được thu nhập lương cao hơn, theo ý nghĩ của ông, là “một vi phạm trầm trọng về tự do tự nhiên và công bình”.[xx] Những lời tuyên bố như sau cho thấy rõ thiện cảm của ông: “Tất cả chỉ dành riêng chúng ta và không có dành cho người nào khác, dường như đây là một câu châm ngôn đồi bại của các bậc thầy của nhân loại trong mỗi thời đại của thế gian”.[xxi]

Thực ra, khó xác định được là Smith là “đại biểu khoa học của gia cấp tư sản” theo ý nghĩa nào. Thí dụ như dù Marx xem Steuart là một nhà qúy tộc, vấn đề ý thức hệ hiển nhiên là không liên hệ gì đến hoàn cảnh xã hội của cá nhân (nếu không thì ta có thể gọi Marx và Engels là những nhà ý thức hệ tư sản loại thượng thặng). Đúng ra, đây là vấn đề họ cùng quan điểm và bảo vệ quyền lợi của một giai cấp đặc biệt. Tôi đã chứng minh là chủ nghĩa cá nhân và thiếu ý thức về lịch sử, điều mà Marx suy nghĩ về những đặc trưng của tư tưởng kinh tế tư sản, không thể tìm thấy nơi con người Smith. Càng hiển nhiên hơn khi ta không tìm thấy bất cư nơi nào để chứng minh là Smith bảo vệ cho quyền lợi tư sản. Trong tác phẩm „Sự Thịnh Vượng Của Đất Nước” không có một tập đoàn nào – kể cả giới lãnh đạo thủ cựu “không sản xuất” – bị phê phán cùng mức độ và cùng đặc điểm giống như thương giới và nhà sản xuất, chỉ vì với lý do là họ là thiểu số nhưng có phương tiện tài chính dồi dào, có lối sống thành thị và cận kề các trung tâm quyền lực. Theo Smith, họ có khả năng can thiệp vào những động lực của thị trường và gây ảnh hưởng đến chính trị để phục vụ cho quyền lợi riêng tư. Họ âm mưu giảm giá lương và tăng giá bán, họ hổ trợ luật pháp (như luật gia sản và huấn nghệ) để ngăn ngừa cạnh tranh; họ lập ra thuế quan để giữ ưu thế trước các nhà cạnh tranh quốc tế; họ gây ảnh hưởng chính sách đối ngoại theo chiều hướng phiêu lưu thuộc điạ và gây chiến, đồng thời họ chấp nhận những thiệt hại nặng nề cho đất nước nhằm thủ lợi cho riêng mình. 

Phê phán của Smith về thuyết trọng thương phải được nhìn trong bối cảnh chung này và không được hiểu như là lối phê phán về chính sách kinh tế đối ngoại dựa trên những suy đoán lý thuyết sai lầm. Chính ra đó là chiều hướng có chủ yếu chống lại một loại chính sách hoàn toàn phù hợp với quan điểm về quyền lợi đặc biệt của thương giới và nhà sản xuất, thường thì thành công, nhưng gây thiệt hại cho công nhân và người tiêu thụ, và cho  đa số. Smith đoan chắc là không có một xã hội dân sự nào tồn tại và thịnh vượng mà không có nhóm này, sáng kiến của họ đem lại việc sử dụng tư bản sinh lợi có thể tạo nên một vai trò hữu ích. Nhưng Smith cũng cảnh báo rằng quyền lợi riêng của nhóm này có thể đối nghịch với quyền lợi của các phe nhóm khác trong xã hội. Nó chỉ có thể giữ một vai trò tích cực bền bỉ và phù hợp nếu khi nhóm này tuân theo quy luật thị trường tự do, mà thị trường này có khuynh hướng thách thức. 

Dự thảo về luật lệ thương mại trong khuôn khổ này cần phải được tham khảo với sự thận trọng và không bao giờ được chuẩn nhận cho đến khi được duyệt xét kỹ càng, một việc không phải chỉ vì có ý định tham ô mà với tất cả ngờ vực. Luật pháp này đến từ khuôn khổ của những con người mà những quyền lợi của họ không bao giờ hoàn toàn giống như quyền lợi của công chúng. Nói chung, họ quan tâm đánh lừa và đàn áp công chúng, và cũng khi họ đã làm hai việc này có cơ hội thuận tiện.[xxii]

Nhận xét này cũng đủ chứng tỏ rằng khi Marx xem Smith là “đại biểu khoa học của gia cấp tư sản“, Marx đã diễn giải sai lạc về luận cương của Smith trong lý thuyết xã hội. Thay vì đặt ra ngoài vòng lịch sử, lý thuyết của Smith cố giải thích hiện tượng xã hội trong bối cảnh “một lịch sử tự nhiên của xã hội dân sự”. Thay vì đơn thuần chấp nhận cảnh khốn cùng của công nhân, Smith biện hộ cho một chính sách kinh tế có thể tác động tương đối đến tăng lương và hạ giá bán. Thay vì bảo vệ cho quyền lợi của người giàu và quyền thế, Smith công khai phê phán không những giới lãnh đạo thủ cựu mà còn cả giới tư sản mới. Sự giải thích sai lệch này, vì đó chính là tiền đề phê phán của Marx về ý thức hệ, nên ảnh hưỏng đến nội dung phê phán của Marx về kinh tế chính trị. Đó là vấn đề cần xét tới.

Còn tiếp…


[i] Jürgen Kuczynski, Geschichte der Lage der Arbeiter unter dem Kapitalismus, vol. 26, East Berlin, 1965. A.V. Anikin, Junost´nauki, Mosva, 1971.

[ii] Robert L. Heilbronner, The Wordly Philosophers, third ed., New York 1969, pp. 140ff. Mark Blaug, Economic Theory in Restropect, Homewood, 1962, German ed. München, 1972, vol. 2, pp. 145ff.

[iii] Ronald Meek, Marx´s Economic Method, in Economics and Ideology, London, 1967, pp. 93-112.

[iv] Karl Graf Ballstrem, Die schottische Äufklärung, München, Oldenbourg.

[v] Andrew Skinner,  “Economic and History: The Scottsh Entlightement“, in Scottisch Journal of Political Economy, 12, 1965; H. R. Trevor-Roper, “The Scottish Enlightment”, in Studies on Voltaire and the 18th Century, vol. 58, Geneva, 1967, pp. 1635 ff. 

[vi] William Roberston, Collected Works, ed. Dugald Steward, 1809, vol. 5, p.111.

[vii] Ronald Meek, „The Scottish Contribution to Marxist Sociology“, in Economics and Ideology, London, 1967, pp. 34-50, esp, .48.

[viii] Marx, Karl, Friedrich Engels, 1961, Werke, Dietz Verlag, Berlin, 23,p. 218.

[ix]  FN8, P. 5, 84.

[x] FN 8, 23,p, p. 95.

[xi] FN 8, 4, p. 126.

[xii] Marx Karl, Grundrisse der Kritik der Politischen Ökonomie, Dietz Verlag, Berlin, p. 6. 

[xiii] FN 8, 4.p. 142.

[xiv] FN 12, p. 917.

[xv] FN 8, 23, p.19.

[xvi] FN 8, 4, p.142.

[xvii] FN 12, p. 5. 

[xviii] Smith Adam, 1976, Wealth of Nations, Clarendons Press, Oxford, I, 6, p. 65.

[xix] Smith Adam, 1978 Lectures in Jurisprudence, Clarendon Press, Oxford, p. 40.

[xx] FN 18, I, p. 157.

[xxi] A.W. Coast (ed.), The Classical Economists and Economic Policy, London, 1971. Smith Adam, FN 18, III, p. 418.

[xxii] FN 18, I, Cp. 11. p. 267.

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.