Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng

Bảo Anh chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Suiwah Leung, ANU/EAF

Sau nhiều năm bất ổn kinh tế vĩ mô, cuối cùng thì Việt Nam cũng bắt đầu thấy một số dấu hiệu ổn định khả quan trong nền kinh tế nước này.

Kinh te VN-11

Tuy nhiên, chính phủ cần thúc đẩy thêm một số cải cách quan trọng nhằm nâng cao chỉ số tăng trưởng dài hạn.

Tổng số về kinh tế vĩ mô cho đến nay vẫn còn nhiều điểm tốt xấu lẫn lộn. Lạm phát trung bình đang ở mức khoảng 6,7%, một phần do tăng trưởng tín dụng và vật giá lương thực giảm nhẹ. Lạm phát cơ bản (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) đang ở mức 10% sau khi một số giá hành chính gia tăng chẳng hạn như giáo dục và chi phí y tế. Lạm phát cơ bản dự kiến ​​sẽ tiếp tục giảm trong năm nay và năm tới do tăng trưởng thấp hơn dự tính.

Hiệu suất mạnh mẽ trong cả xuất khẩu và kiều hối đã giúp Việt Nam đạt mức thặng dư 5,9% GDP trong năm 2012, và con số này tiếp tục được ước tính ở mức khoảng 5,1% trong năm 2013. Kết quả này đã giúp giảm áp lực đối với tiền đồng VND, và tỷ giá chính thức cũng như tỷ giá hối đoái thị trường đen đang trao đổi với giá tương tự nhau. Tốc độ tăng trưởng GDP được dự đoán ở mức khoảng 5,3% trong năm 2013 và có thể tăng lên đến 5,5% vào năm 2015.

Hiện nay có bằng chứng rõ ràng rằng Việt Nam đã nâng tầm trong mạng lưới sản xuất trong ngành điện tử và phụ kiện, điện thoại di động và các bộ phận liên quan cũng như máy tính và phụ tùng ô tô. Xuất khẩu điện thoại di động và các bộ phận tương tự được ước tính đạt khoảng 18 tỷ USD trong 10 tháng đầu tiên của năm 2013, vượt qua con số xuất khẩu hàng may mặc. Đây là kết quả của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bởi các công ty đa quốc gia như Intel, Samsung và Nokia. Samsung là công ty xuất khẩu hàng đầu tại Việt Nam và thị trường xuất khẩu điện tử tại Việt Nam hiện đang quá phụ thuộc vào công ty này.

Tuy nhiên, tất cả các công ty đa quốc trên đã giúp liên kết ngành sản xuất của Việt Nam đến các chuỗi cung ứng sản xuất trên toàn cầu. Ngành xuất khẩu thiết bị điện tử, điện thoại di động và các phụ kiện liên quan đã tăng từ 4% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu hồi năm 2003 lên đến hơn 32% 10 năm sau đó. Đồng thời, các ngành sản xuất trong lĩnh vực lao động truyền thống cũng đã được thực hiện khá tốt với mức tăng trưởng trung bình đạt khoảng 17% trong năm 2013, và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng khoảng 18,5%.

Chính sách công nghiệp một lần nữa lại gặp thời. Ngành công nghiệp tuyên bố rằng trọng tâm mới không phải là ‘chọn người chiến thắng’ mà nhắm vào việc phát triển môi trường thuận lợi cho các ngành công nghiệp và các công ty nói chung để giúp Việt Nam chuyển sang các hoạt động giá trị gia tăng cao hơn trong dòng sản phẩm hiện có. Trong khi ngành công nghiệp chắc chắn sẽ đóng vai trò quan trọng tại Việt Nam thì các yếu tố mang lại tăng trưởng dài hạn mạnh mẽ hơn chính là cải cách các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, và cải thiện tài chính công và hành chính.

Chi phí hoạt động kinh doanh – bao gồm nhưng không giới hạn đến tiền lương – cần phải tiếp tục giữ mức cạnh tranh. Chúng bao gồm các chi phí viễn thông, bảo hiểm, điện, xăng dầu, vận chuyển và hải quan, dịch vụ cho thuê văn phòng và nhà ở cho nhân viên người nước ngoài. Nhưng hầu hết các lĩnh vực này đều bị chi phối bởi doanh nghiệp nhà nước. Do đó, tiến độ cải cách doanh nghiệp nhà nước sẽ có tác động sâu sắc đến khả năng cạnh tranh của tất cả các lĩnh vực doanh nghiệp tại Việt Nam.

Trong ngành công nghiệp may mặc, nơi đang bị thiếu hụt nguồn cung cấp về cả số lượng lẫn chất lượng được xác định là một trong những trở ngại chính cho sự phát triển, và sự hiện diện của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chiếm đếm 21%. Loại bỏ các công ty nhà nước trong lĩnh vực tư nhân sẽ giúp ngành này phát triển mạnh mẽ hơn, tăng tính linh hoạt trong việc thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng quốc tế, và giảm sự phụ thuộc vào hàng dệt may và các loại vải nhập khẩu. Cuối cùng, trong các tập đoàn lớn của nhóm doanh nghiệp nhà nước và tổng công ty, việc tham gia vào các hoạt động không cốt lõi như bất động sản, bảo hiểm và ngân hàng đã làm tăng mức rủi ro và kế hoạch giải cứu tài chính.

Tiến bộ trong việc cải cách hiện đang diễn ra rất chậm so với dự kiến, mặc dù một số quyết định đã được thực hiện trong năm 2013 về việc công bố thông tin tài chính và phi tài chính, quản lý doanh nghiệp nhà nước liên kết thù lao với hiệu suất, và loại bỏ các yêu cầu bán tài sản nhà nước theo giá cả trong sổ sách. Pháp luật hiện hành vẫn chưa đề cập rõ ràng về những thông tin nào được công bố và công bố cho những đối tượng nào. Các câu hỏi về những gì được tiết lộ trước đây đã từng đề nghị giải quyết trong Nghị định 61 và đưa vào áp dụng trong năm 2014, nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan vẫn còn thiếu trách nhiệm và cần phải được giải quyết sớm.

Nghiên cứu các trường hợp trong các ngành công nghiệp may mặc, giày dép và điện tử đã phát hiện ra rằng thiếu nguồn vốn tài chính là một trong những hạn chế lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và các doanh nghiệp vừa thành lập. Trong trường hợp tại Việt Nam thì phải cần loại bỏ các quy định buộc các ngân hàng chỉ cho (bị cáo buộc vì lý do an toàn) các công ty đã được chứng minh có quá trình hoạt động mới được vay tiền. Việc này sẽ mở đường cho các doanh nghiệp mới thành lập. Điều này không phải để nói rằng các nhà quản lý ngân hàng nhất thiết phải có những kỹ năng đánh giá rủi ro đối với các doanh nghiệp vừa thành lập cũng như các doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt là khi họ có thể cho các DNNN vay với số lợi nhuận cao và an toàn hơn nhiều. Nhưng xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh và định hướng thương mại bằng cách thực hiện những cải cách đã có sẵn trong kế hoạch của chính phủ sẽ khuyến khích các ngân hàng cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất vay vốn, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ.

Một lần nữa, sự tiến bộ và cải cách cần phải được đẩy mạnh hơn. Vấn đề nợ xấu (non-performance loans) tiếp tục làm suy yếu niềm tin trong lĩnh vực ngân hàng và cản trở tăng trưởng tín dụng. Ước tính của Moody hồi tháng Hai năm 2014 rằng nợ xấu tại Việt Nam đang ở mức 15%. Con số này đặt ra câu hỏi nghiêm trọng liên quan đến các ước tính chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là 4,6% hồi tháng Mười năm ngoái, và thậm chí ước tính thấp hơn 3,6% vào đầu tháng 2 năm 2014. Những tuyên bố tiếp theo trên trang web của Ngân hàng Nhà nước rằng tỷ lệ nợ xấu có thể lên đến 9% nếu định nghĩa theo cách nghiêm ngặt hơn nhưng trên thực tế thì đây là sự thừa nhận không chính xác từ phía Ngân hàng Nhà nước. Một trong những vấn đề này là ‘hành vi mánh phé’ của một số ngân hàng thương mại. Các ngân hàng này mua trái phiếu từ khách hàng của họ để có thể sử dụng các quỹ đó trong việc giảm tỷ lệ nợ xấu. Một số ngân hàng đã khai báo tài sàn nhiều hơn giá trị thực tế để giảm thiểu quy định đối với các khoản nợ xấu. Quyết định 843 gần đây cho phép Ngân hàng Nhà nước nhiều quyền lực hơn trong việc kiểm toán nợ xấu tại các ngân hàng thương mại nhưng trước khi việc này diễn ra thì Ngân hàng nhà nước cần tái lập độ tin cậy trước đã.

Việc thành lập Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam (VAMC) hồi tháng Bảy năm 2013 nói chung được xem như một cách để loại tỷ lệ nợ xấu ra khỏi sổ sách của các ngân hàng thương mại. Liệu VAMC có thể giải quyết vấn đề nợ xấu kịp thời hạn hay không vẫn còn phụ thuộc vào lượng vốn mà họ có thể kêu gọi. Trong khi đó, quy định thông thoáng hơn về quyền sở hữu ngân hàng đối với vốn nước ngoài sẽ giúp củng cố lĩnh vực ngân hàng.

Ngoài ra, cải thiện tài chính của chính phủ luôn là điều cần thiết đặc biệt là đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực – các thành phần thiết yếu đối với tăng trưởng dài hạn.

Trong ngắn hạn, tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô cùng với sự tăng trưởng ấn tượng trong lĩnh vực xuất khẩu sản xuất cho thấy triển vọng trung hạn của Việt Nam đã được cải thiện phần nào trong 12 tháng qua, mặc dù nguy cơ tan vỡ cũng không hề nhỏ. Thời gian là điều cốt yếu. Nếu chính phủ có thể đẩy mạnh chính sách cải cách đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng – và nếu kinh tế thế giới tiếp tục cải thiện – thì Việt Nam có thể sẽ thành công trong các chính sách dài hạn của nước này.

Suiwah Leung là giáo sư Kinh tế tại Trường Chính sách công Crawford, ANU.

© 2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Leave a Reply

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ không chịu trách nhiệm về những thông tin, hoạt động hay bài viết
về Tập Hợp nếu các thông tin không được đăng tải chính thức trên trang thtndc.info.